Hiển thị các bài đăng có nhãn Dầu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dầu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Cuộc chiến dầu lửa đang ở đâu?

Cuộc chiến hạ giá dầu giữa Arập Xê Út và Mỹ đã diễn ra được gần hai năm. Mặc dù chưa có dấu hiệu chấm dứt, nhưng đôi bên đều đã “trọng thương”.
cuoc chien dau lua dang o dau

“Kẻ đi săn” bị thương

2015 là năm mà người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới hài lòng khi thấy giá xăng dầu giảm mạnh. Chỉ riêng tại Arập Xê Út, trong năm qua, giá xăng dầu đã tăng lên gần gấp đôi – đang từ 0,50 riyal nhảy vọt lên thành 0,90 riyal – tương đương với khoảng 0,29 USD một lít dầu diesel. Đơn giản là vì chính quyền Ryad đã buộc phải ngưng trợ cấp xăng dầu cho dân.

Không chỉ có xăng dầu, năm tới thần dân của nhà vua sẽ còn phải trả điện, nước, thuê nhà với cái giá đắt hơn, bởi vì thu nhập từ dầu hỏa của Riyad năm 2015 giảm đi mất 82 tỷ USD. Cũng năm 2015, ngân sách trợ giá năng lượng của vương quốc vùng Vịnh này lên tới 61 tỷ USD, trong đó gần một nửa là dành để giúp cho người dân thoải mái mua xăng, dầu.

Nhưng nếu như chính quyền của nhà vua Salman “hy sinh” chính sách trợ giá xăng dầu, thì ngược lại các khoản trợ cấp xã hội tại Arập Xê Út trong năm qua- ước tính khoảng từ 100 đến 150 tỷ USD- vẫn được duy trì, bởi vì Riyad không quên rằng, chính những khó khăn kinh tế đã dẫn tới các cuộc nổi dậy từ ở Tunisia tới Ai Cập, Syria, Libya hồi năm 2011.

Trong lúc nguồn thu nhập sụt giảm thì các khoản chi tiêu quân sự của Riyad lại không ngừng gia tăng trong bối cảnh Trung Đông đang “dầu sôi lửa bỏng”: theo thẩm định của một số chuyên gia quân sự, kể từ khi dẫn dầu liên minh Arập can thiệp tại Yemen, mỗi tháng Arập Xê Út phải tốn khoảng 1,5 tỷ USD. Ngân sách an ninh quốc phòng trong năm nay, chiếm 25,4 % các khoản chi tiêu công cộng của Arập Xê Út, tăng 17 % so với tài khóa 2015.

Theo đánh giá của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm trong năm 2015 cùng với Trung Quốc và Nga Arập Xê Út là một trong ba nước đã chi ra nhiều nhất để mua vũ khí và trang thiết bị quân sự.
Cái khó đặt ra với chính quyền Riyad là giá dầu trên thị trường quốc tế đang từ 110 USD/thùng vào tháng 6/2014 đã rơi xuống còn chưa đầy 40 USD vào những ngày cuối cùng tháng 12/2015. Cho dù vẫn còn làm chủ một khoản dự trữ ngoại tệ trên dưới 700 tỷ USD nhưng vua dầu hỏa bắt đầu phải trả giá cho những tính toán chiến lược do chính mình vạch ra. Riyad bắt đầu mệt mỏi vì chiến lược dầu hỏa do chính mình áp đặt.

“Con mồi” trúng đạn

Điều khó hiểu là cho dù đang phải đi vay và hai năm liên tiếp bị bội chi ngân sách Arập Xê Út vẫn không có ý định giảm lượng xuất khẩu dầu hỏa để đẩy giá vàng đen trên thị trường quốc tế lên cao theo luật cung cầu. Theo phân tích của chuyên gia về địa chính trị người Pháp Philippe Sébille Lopez, Riyad gồng mình hứng chịu hậu quả kinh tế do chính mình đặt ra để loại bớt một số các mối cạnh tranh- Mỹ, Canada, Nga, Iran. Luận điểm này được các vương quốc trong vùng Vịnh tán đồng.

Với giá dầu ở mức 36 USD một thùng, một số các nhà sản xuất phải giảm lượng cung cấp trên thị trường, thậm chí là phải đóng hẳn một số giếng dầu. Bởi vì giá thành quá cao so với giá dầu trên thị trường. Đó là trường hợp của những hãng dầu Mỹ vừa mới nhập cuộc trên thị trường dầu đá phiến. Như vậy có nghĩa là về lâu dài, chỉ có khai thác dầu hỏa của các nước vùng Vịnh là còn có lãi. Bởi vì các nước trong vùng Vịnh, đứng đầu là Arập Xê Út có giá thành rất thấp, chưa tới 10 USD một thùng. Điều đó có nghĩa là, nếu như giá dầu trên thế giới chỉ còn 20 USD/thùng, Riyad vẫn có thể sản xuất dầu và xuất khẩu dầu hỏa. Không một quốc gia nào có được giá thành thấp như Arập Xê Út.

Nói cách khác, dầu của Trung Đông vẫn sẽ tràn ngập thị trường và trong tương lai, vùng Vịnh vẫn đóng một vai trò trọng yếu. Ngược lại, dầu thô khai thác từ Bắc Hải chẳng hạn sẽ trở nên quá đắt đỏ (26 USD/thùng). Giá thành của một thùng dầu đá phiến ở Mỹ hay Canada là khoảng 65USD. Tựu trung, hiện tượng giá dầu giảm mạnh đang phác họa lại bản đồ của các nguồn cung cấp. Nhưng trong mọi trường hợp, dầu hỏa của Trung Đông vẫn còn áp đảo thị trường của thế giới.

Tính toán của Riyad loại bớt các đối thủ không phải là không có cơ sở: khi biết rằng để có lãi, dầu đá phiến sản xuất tại Mỹ phải được bán ra với giá tối thiểu là 50 USD/thùng. Dưới ngưỡng tối thiểu đó, các hãng dầu của Mỹ không thể đầu tư thêm để tìm kiếm hay khai thác thêm các giếng dầu mới.

Theo thẩm định của tập đoàn quản lý các dịch vụ liên quan đến ngành dầu khí Baker Hughes, trong năm 2015 đã có hơn 1000 giếng dầu ở Mỹ phải đóng cửa, sản lượng dầu đá phiến tại Mỹ trong tháng 11/2015 đã giảm đi 93.000 thùng mỗi ngay, để chỉ còn 5,12 triệu thùng mà thôi. Theo Cơ quan Thông tin về Năng lượng Mỹ, đây là mức thấp nhất kể từ khi nước Mỹ bắt đầu phát triển công nghệ khai thái dầu đá phiến.
Giáo sư kinh tế Philippe Chalmin tại đại học Paris –Dauphine, nhấn mạnh tới những tính toán của Arập Xê Út trên bàn cờ năng lượng: “Sở dĩ mức cung đã tăng lên trên thị trường, do trong suốt thời gian từ năm 2006 đến 2014, giá dầu hỏa đã tăng cao. Trong chu kỳ đó, các nước sản xuất đã thi nhau đầu tư vào hạ tầng cơ sở, vào kỹ nghệ thăm dò, khai thác, lọc dầu. Nhiều giếng mới được đưa vào hoạt động. Từ đó dẫn tới hiện tượng đầu tư ồ ạt. Mà hậu quả tiếp theo là dư thừa sản xuất trong lúc sức mua vào của những nguồn tiêu thụ dầu thô lớn trên thế giới thì đã bão hòa hay nói đúng hơn là tăng không nhanh như mong đợi, do hoạt động kinh tế tại một số nơi,- chẳng hạn như của nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy lại bị chựng lại. Trên nguyên tắc trong trường hợp này, Arập Xê Út và các nước vùng Vịnh cần điều chỉnh lượng sản xuất để giữ giá dầu trên thị trường quốc tế. Nhưng Riyad đã không giảm mức sản xuất mà ngược lại còn cứ tiếp tục mở vòi dầu hỏa. Khi giá dầu xuống quá thấp, dầu của Mỹ hay Canada, của một số các nước châu Phi không đủ sức cạnh tranh với dầu của Arập Xê Út”.

Số phận của kẻ đi săn?

Dù vậy theo giáo sư Chalmin chiến lược của Riyad cũng đầy rẫy rủi ro. Trong báo cáo gần đây, ngân hàng Mỹ Goldman Sachs chờ đợi giá dầu sẽ đụng đáy ở mức khoảng 18 USD/thùng. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự phóng nếu giá dầu tiếp tục giảm với nhịp độ như hiện tại thì từ nay tới năm 2020 gối dự trữ ngoại tệ của Arập Xê Út sẽ tiên tan. Chuyên gia Lopez cho biết thêm: “Tình huống này chẳng có lợi cho bất kỳ một ai. Arập Xê Út đã thất thu 100 tỷ USD, Kowait mất hơn 30 tỷ. Nếu như hai vương quốc này đủ sức chịu đựng thì ngược lại những nước như Venezuela, Nigeria, Angola và rất nhiều các nước châu Phi khác thực sự điêu đứng. Bởi vì những nước đó không có nhiều dự trữ ngoại tệ, và không có nguồn thu nhập nào khác ngoài dầu hỏa. Về phía các nước tiêu thụ dầu hỏa, như châu Âu chẳng hạn nếu giá dầu cứ tiếp tục giảm thì họ có lợi trong ngắn hạn, nhưng về lâu về dài, giá dầu sẽ tăng lại. Chừng đó các nước này phải tính sao đây?

Liệu chính quyền Riyad có thể giữ được chiến lược dầu hỏa đó tới khi nào. Arập Xê Út vừa thông báo tăng 70% giá điện nước trong năm 2016. Đây thực sự là một gánh nặng đối với một phần lớn dân chúng vốn có thói quen trông chờ vào các khoản trợ giúp của nhà vua. Lại cũng Riyad đang chuẩn bị đánh thuế trị giá gia tăng… để lấp đầy công quỹ.

Trong 40 năm qua, các thế hệ lãnh đạo ở Riyad liên tiếp đã dùng lá bài dầu hỏa để đổi lấy ổn định trong xã hội, bảo vệ ngai vàng. Giờ đây vương quốc này lại dùng dầu hỏa để triệt hạ bớt các mối đe dọa tiềm tàng.

Giới phân tích cho rằng, nếu không khéo, tính toán của Arập Xê Út để loại các đối thủ trên thị trường sản xuất dầu hỏa – mà đứng đầu là Iran, các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ và kể cả các đại gia dầu khí của Nga, lại có nguy cơ dẫn tới bất ổn xã hội ngay trên vương quốc vùng Vịnh này. 



















































































































Nh.Thạch
Nguồn:(Theo AFP. AP, Reuters)

Nguồn: Petrotimes, ngày 11/01/2016 truy cập từ http://petrotimes.vn/cuoc-chien-dau-lua-dang-o-dau-371291.html. 

Giá dầu dưới 40 đô la, một số nhà sản xuất có thể phá sản



 

 

 

 
Một phần của dự án Eastern Trough Area tại Bắc Hải. Ảnh: ifeng

(TBKTSG Online) – Nếu giá dầu giảm xuống dưới 40 đô la Mỹ/thùng sẽ có nhiều nhà sản xuất dầu phải tái cơ cấu hoặc phá sản trong vòng 12-18 tháng tới, hãng tin Reuters dẫn một báo cáo của Wells Fargo Securities cho biết .


Hai nhà phân tích James Spicer và Mark Guile của Wells Fargo Securities cho rằng, với nhiều nhà sản xuất dầu, điểm hòa vốn vẫn ở mức gần 60 đô la Mỹ/thùng - gần gấp đôi so với giá dầu hiện tại.
Trong khi đó, phân tích kỹ thuật cho thấy ít nhất trong 10 năm tới, giá dầu khó có thể tăng lên trên 60 đô la Mỹ/thùng.
Giá dầu tiếp tục giảm
Sáng nay 11-1, giá dầu thế giới tiếp tục giảm trong ngày giao dịch đầu tuần do tâm lý lo ngại nền kinh tế Trung Quốc chững lại khiến nhu cầu dầu mỏ của nền kinh tế thứ hai thế giới giảm sút trong khi nguồn cung vẫn dư thừa.
Lúc 9 giờ 30 phút (giờ Việt Nam), giá dầu WTI giao tháng 2-2016 của Mỹ giảm 68 cent/thùng, xuống còn 32,48 đô la Mỹ/thùng; trong khi giá dầu Brent giao tháng 2-2016 giảm 69 cent/thùng xuống còn 32,86 đô la Mỹ/thùng. Như vậy, giá hai loại dầu nói trên đã giảm tổng cộng khoảng 10% kể từ đầu tuần trước và xuống mức thấp nhất 12 năm qua.
Tình trạng trên được lý giải do các nhà đầu tư lo ngại trước triển vọng kinh tế không mấy khả quan của Trung Quốc – nước tiêu thụ năng lượng hàng đầu thế giới.
Goldman Sachs: giá dầu cần giảm hơn nữa mới có thể khiến thị trường cân bằng
Goldman Sachs cho biết giá dầu cần giảm hơn nữa mới có thể buộc các nhà sản xuất dầu giảm nguồn cung để đạt trạng thái cân bằng cung – cầu trên thị trường - theo Reuters ngày 11-1.
Kể từ khi giá dầu bắt đầu giảm cách đây 18 tháng, các thương nhân và nhà đầu tư đã cố gắng nín thở nhưng xu hướng giảm của giá dầu vẫn tiếp tục, ngày càng giảm sâu hơn. Giá dầu đã giảm từ hơn 100 đô la Mỹ/thùng xuống dưới 40 đô la Mỹ/thùng, hiện sắp giảm xuống dưới ngưỡng 30 đô la Mỹ/thùng.
Vào ngày 8-1, Goldman Sachs cho biết trong quí 1-2016, giá dầu sẽ tiếp tục giảm. Trước đó, Goldman Sachs từng dự báo giá dầu có thể giảm xuống còn 20 đô la Mỹ/thùng.
Theo chuyên gia Michael McCarthy của CMC Sydney, khả năng giá dầu tăng trở lại không cao trừ khi tình trạng dư cung có biến chuyển.
Chuyên gia Sanjeev Gupta của Singapore nhận định tình hình căng thẳng leo thang giữa Iran và Ả-rập Saudi – 2 nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới - có thể là yếu tố giúp giá dầu tăng trở lại trong ngắn hạn. Tuy nhiên, thị trường sẽ vẫn bám sát các số liệu kinh tế mới nhất từ châu Âu và Trung Quốc. Nếu các dấu hiệu tăng trưởng chậm lại thì giá dầu sẽ tiếp tục đi xuống.
Khả năng phục hồi kinh tế Nga đứng trước nguy cơ
Giá dầu giảm xuống mức thấp nhất 12 năm qua khiến sự phục hồi kinh tế và quỹ dự trữ của Nga gặp nguy hiểm. Khoảng 50% nguồn thu ngân sách và 40% xuất khẩu của Nga phụ thuộc vào năng lượng. Ngoài giá dầu, Nga cũng đang đối mặt với cuộc bầu cử năm 2018 và các vấn đề khác.
Nếu giá dầu ở mức 30 đô la Mỹ/thùng hoặc thấp hơn, trường hợp xấu nhất có thể xuất hiện là ngân khố của Nga sẽ trống rỗng chỉ trong hơn 1 năm, nguồn thu từ dầu mỏ dồi dào trong 10 năm qua sẽ cạn kiệt.
Giám đốc điều hành (CEO) Christopher Granville của Công ty tư vấn đầu tư Trusted Sources cho biết trong những ngày nghỉ lễ vừa qua, nhiều người Nga nhận thức rất rõ cuộc sống trở nên khó khăn hơn. Tiền lương của công chức không tăng trong năm thứ ba liên tiếp, lương hưu tăng thấp hơn lạm phát, sản phẩm nhập khẩu và dịch vụ nghỉ dưỡng trở nên đắt đỏ hơn. Thậm chí, một số người còn so sánh tình hình hiện tại với cuộc khủng hoảng tài chính Nga năm 1998; khi đó chính phủ Nga phải tuyên bố phá sản, đồng rúp mất đến 3/4 giá trị.
Chính phủ Nga dự báo nền kinh tế nước này sẽ tăng trưởng 0,7% năm nay và 1,9% năm tới. Nhưng lạm phát gia tăng sẽ khiến tình trạng suy thoái kinh tế tại Nga kéo dài. Giám đốc bộ phận kinh doanh và chiến lược David Hauner của Merrill Lynch CEEMEA nói nếu giá dầu không tăng trở lại, những dự báo trên sẽ không đứng vững.
Phúc Minh

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ngày 11/01/2016 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/140958/Gia-dau-duoi-40-do-la-mot-so-nha-san-xuat-co-the-pha-san.html. 

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Giá dầu có thể mất nhiều năm mới hồi phục

Trong lần gần nhất giá dầu lao dốc do dư cung, thị trường phải mất gần 5 năm để quay về trạng thái cũ.

Biểu đồ của Bloomberg cho thấy trong giai đoạn từ tháng 11/1985 đến tháng 4/1986, giá dầu WTI tại Mỹ đã giảm tới 69%, từ 31,82 USD xuống 9,75 USD một thùng khi Ảrập Xêút tỏ ra mệt mỏi với việc giảm sản lượng để hỗ trợ giá cả. Thị trường chỉ phục hồi vào năm 1990.
Hiện tại, giá dầu thô đã giảm 57% từ tháng 6 năm ngoái, và các thành viên Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) không tỏ ra lo lắng nếu giá giảm sâu hơn nữa.
Giá dầu tăng vọt thập niên 70 đã làm bùng nổ việc khai thác các mỏ tại Biển Bắc và Alaska. Các thành viên OPEC cũng tăng sản lượng, chỉ để Ảrập Xêút giảm cung khi nhu cầu yếu đi.
oil-4-8517-1421230118.jpg
Biểu đồ cho thấy lần gần đây nhất dư cung, giá dầu mất gần 5 năm để phục hồi. Ảnh: Bloomberg
Đến những năm 1980, nước này tỏ ra "mệt mỏi vì bị các nước khác tận dụng làm van dầu", và để mặc nguồn cung tràn ngập thị trường, Walter Zimmerman - chiến lược gia tại United-ICAP cho biết. Sau khi dầu lao dốc, "người Ảrập hốt hoảng và lại tiếp tục đóng vai trò điều tiết nguồn cung. Nếu họ không sợ hãi như vậy, chúng ta đã không có sự bùng nổ khai thác dầu đá phiến ngày nay và sản xuất tại Biển Bắc cũng sẽ thấp hơn vì ít thu hút đầu tư", ông nhận xét.
Đầu tư vào cơ sở khai thác mới đã tăng vọt khi giá dầu lên trung bình gần 96 USD giai đoạn 2011-2013. Sự kết hợp giữa công nghệ khoan ngang và bẻ gãy thủy lực đã giải phóng các mỏ dầu đá phiến, khiến sản lượng khai thác tại Mỹ lên cao nhất 3 thập kỷ. Tháng trước, sản xuất tại Nga cũng lên cao nhất thời hậu Xô Viết và Irraq cũng xuất khẩu nhiều nhất kể từ thập niên 80.
"Nếu trước đây cứ để giá dầu xuống thấp, họ đã tránh được rất nhiều vấn đề trong dài hạn rồi", Zimmerman nhận xét.
Đầu tuần này, Goldman Sachs cũng đã giảm dự báo giá dầu toàn cầu vì cho rằng tồn kho sẽ tiếp tục tăng nửa đầu năm nay. Nhà băng dự đoán trong 3 tháng tới, dầu WTI tại Mỹ sẽ giao dịch tại 41 USD một thùng và dầu Brent sẽ xuống 42 USD một thùng. Trong 6 tháng và 12 tháng tới, Goldman Sachs cho rằng dầu WTI sẽ xuống 39 USD rồi lên 65 USD. Còn dầu Brent sẽ giao dịch tại 43 USD và 70 USD.
Hà Thu























































Nguồn: VN Express ngày 14/01/2015 truy cập từ http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/gia-dau-co-the-mat-nhieu-nam-moi-hoi-phuc-3133852.html. 

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến

(TBKTSG) - Thực tiễn năm năm trở lại đây cho thấy một cuộc cách mạng khai thác dầu khí đá phiến đã đột phát và đang diễn tiến liên tục hàng ngày tại khắp nước Mỹ. Cuộc cánh mạng năng lượng này được coi là biến chuyển cực kỳ quan trọng, có tầm vóc lịch sử, đã khiến Mỹ vượt Nga để trở thành quốc gia có sản lượng khí đốt lớn nhất thế giới vào năm 2010.
Khai thác dầu mỏ từ đá phiến. Ảnh minh họa
Dầu khí đá phiến là gì?
Quá trình hình thành dầu khí bắt nguồn từ hàng trăm triệu năm trước, khi xác các sinh vật chìm dưới đáy biển và xác thực, động vật bị chôn vùi trong lòng đất hình thành lớp vật chất tạm gọi là “bùn lắng hữu cơ”. Năm này qua năm khác, quá trình này cứ tiếp diễn, các lớp bùn hữu cơ trộn lẫn với trầm tích và các vật chất khác tiếp tục bị chôn vùi sâu hơn và hình thành nên những lớp đá phiến hạt mịn. Nếu chúng ở sâu, bị các lớp trầm tích mới đè lên tạo nên môi trường áp suất lớn và nhiệt độ cao thì các vật chất hữu cơ này bị phân giải, hình thành dầu và khí, len lỏi trong các lớp đá có độ thấm và độ rỗng cao, và dồn về nơi có áp suất thấp hơn tạo thành các túi dầu thô và khí đốt mà con người đã khai thác trong hơn 100 năm qua. Đây được coi là dầu khí truyền thống (conventional oil & gas).
Nhưng khi ở độ sâu chưa đủ tạo ra áp suất và nhiệt độ cao và ở những lớp đá có độ thấm và độ rỗng thấp thì dầu và khí không thể tập trung vào một chỗ mà tích tụ trong các lỗ hổng nhỏ, không liên thông, nằm xen kẽ giữa các lớp đá phiến. Các lớp đá phiến này thường nằm ở độ sâu chừng hơn 1-6 ki lô mét trong lòng đất, tùy theo cấu tạo địa chất từng vùng. Dầu và khí được hình thành trong trạng thái như vậy được gọi là dầu khí bị “nhốt” trong đá phiến, hay gọi tắt là “dầu khí đá phiến” (shale oil & gas). Dầu khí đá phiến được coi là dầu khí phi truyền thống (unconventional oil & gas).
Như vậy, đặc tính cốt lõi của dầu khí đá phiến (phi truyền thống) để phân biệt với dầu khí truyền thống là ở chỗ: do độ thấm và độ rỗng thấp của các lớp đá phiến nên không thể hình thành dòng chảy tự phát vào giếng khoan khai thác với lưu lượng thỏa mãn điều kiện kinh tế của các phương pháp khai thác truyền thống.
Trữ lượng dầu khí đá phiến lớn như thế nào?
Không chỉ ở Mỹ và Canada, dầu khí đá phiến có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm cả Nga, Trung Quốc, châu Âu, châu Phi và Nam Mỹ. Theo Cơ quan Thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA), trữ lượng dầu đá phiến toàn thế giới là 345 tỉ thùng, trong đó Nga là nước đứng đầu với trữ lượng 75 tỉ thùng. Tiếp sau đó là Mỹ, Trung Quốc, Argentina và Libya với trữ lượng lần lượt là 58, 32, 27 và 26 tỉ thùng.
Cũng theo cơ quan này, trữ lượng khí đá phiến toàn thế giới là 206.000 tỉ mét khối. Đứng đầu trong danh sách này là Trung Quốc, theo sau là Argentina, Algeria, Mỹ và Canada với trữ lượng lần lượt là 32.000, 23.000, 20.000, 19.000 và 16.000 tỉ mét khối.
Mặc dù vậy, cần nhớ rằng trữ lượng dầu đá phiến (345 tỉ thùng) chỉ chiếm một phần mười tổng trữ lượng dầu thô trên toàn thế giới và trữ lượng khí đá phiến (206.000 tỉ mét khối) chiếm khoảng một phần ba tổng trữ lượng khí đốt toàn thế giới.
Riêng đối với Mỹ, trữ lượng dầu và khí đá phiến chiếm khoảng một phần tư tổng trữ lượng dầu và khí. Trung Quốc mặc dù có trữ lượng khí đá phiến nhiều hơn gần gấp đôi Mỹ nhưng hiện nay vẫn loay hoay với bài toán khai thác thế nào cho hiệu quả.
Những tác động của dầu khí đá phiến đối với nền kinh tế Mỹ ra sao?
Cuộc cách mạng lớn nhất về dầu khí trong thế kỷ 21 đã và đang diễn ra ở Mỹ để khai thác các tài nguyên từng bị xem là không khả thi về mặt thương mại. Với trữ lượng dầu khí đá phiến khổng lồ tại nhiều bang và trình độ khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới, Mỹ là nước đầu tiên đi tiên phong và làm chủ công nghệ này. Có thể kể ra một ví dụ điển hình như sau. Vùng Eagle Ford - nằm cách thủ đô dầu khí Houston khoảng 320 ki lô mét - vào năm 2011 chỉ khai thác được 50.000 thùng dầu thô/ngày. Đến nay con số này đã vọt lên 1,4 triệu thùng/ngày nhờ vào kỹ nghệ khai thác dầu khí đá phiến nói trên. Điều này góp phần đưa sản lượng dầu thô của tiểu bang Texas từ 1,3 triệu thùng/ngày tăng vọt đến hơn 3 triệu thùng/ngày vào thời điểm hiện nay. Có lẽ mọi người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng sản lượng này của chỉ riêng tiểu bang Texas đã vượt sản lượng dầu thô của Iraq - một quốc gia nổi tiếng về sản xuất dầu mỏ.
Từ năm 2007-2014, sản lượng khí đá phiến của Mỹ tăng trung bình 50% mỗi năm, tương đương mức tăng từ 5% lên 36% trong tổng thị phần khí đốt. Viện Nghiên cứu McKinsey dự báo ngành công nghiệp khí đá phiến sẽ giúp GDP của Mỹ tăng bình quân 4% hàng năm, tức vào khoảng 690 tỉ đô la Mỹ.
Sự phát triển của cuộc cách mạng dầu khí đá phiến đã đem lại 2,1 triệu việc làm và đóng góp 74 tỉ đô la tiền thuế cho ngân sách của Mỹ năm 2012. Năm 2014 cũng đánh dấu mức đầu tư lớn nhất từ trước đến nay ở ngành dầu khí với con số khổng lồ lên đến 200 tỉ đô la với hơn 120 tỉ đô la được đầu tư vào các dự án sản xuất khí hóa lỏng. Dự báo đến năm 2020, ngành công nghiệp này sẽ đem lại cho Mỹ hơn 3 triệu việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và đưa nước này đến một chu kỳ kinh tế phát triển mới.
Cuộc cách mạng năng lượng này ảnh hưởng đến thế giới ra sao?
Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến không những đã giúp kinh tế Mỹ hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 2008, mà còn đóng góp vào việc bình ổn giá dầu thô toàn cầu trong lúc các cuộc khủng hoảng xảy ra ở nhiều vùng miền sản xuất dầu khí trên thế giới.
Tại Mỹ, sản lượng dầu và khí đá phiến dồi dào đã vực dậy các ngành công nghiệp liên quan như công nghiệp sản xuất điện năng từ khí, công nghiệp vận tải, nhưng quan trọng nhất là công nghiệp lọc hóa dầu và điều này góp phần tích cực vào sự bình ổn giá xăng dầu toàn cầu. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ hóa lỏng khí đốt, việc Mỹ trở thành nhà cung cấp nguồn năng lượng này cho khu vực châu Âu và châu Á sẽ có triển vọng sớm hiện thực hóa.
Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến đã góp phần tăng nguồn dầu dự trữ chiến lược (strategic petroleum reserve) của Mỹ, hiện tại đã lên đến khoảng 730 triệu thùng - mức cao nhất tính từ năm 1982. Về lâu dài, khi có nhiều lựa chọn về nhiên liệu, các quốc gia OPEC, đặc biệt là khu vực Trung Đông sẽ không còn thao túng giá dầu thô trên thế giới.

Trần Hữu Hiếu (*)

(*) Nhóm nghiên cứu dầu khí Houston, Hoa Kỳ
Ai là cha đẻ của kỹ thuật khai thác dầu khí đá phiến?
Thực ra, người ta đã biết về dầu khí đá phiến từ rất lâu nhưng lại không biết cách nào để khai thác nó một cách hiệu quả và đỡ tốn kém nhất. Từ những năm cuối thập niên 1970 một kỹ sư dầu khí sống ở thành phố Houston, tiểu bang Texas có tên là George Mitchell đã thành lập Công ty Mitchell Energy & Development Corporation để phát triển kỹ thuật “nứt vỡ thủy lực” dùng trong việc khai thác dầu khí đá phiến. Thời gian đầu không ai nghĩ là ông Mitchell sẽ thành công, thậm chí còn bị dư luận chế giễu là lập dị, và những việc ông ta làm chẳng đem lại ích lợi gì.
Song, với sự cần mẫn và tinh thần sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong kinh doanh, “dám làm dám chịu” (entrepreneurship) vốn đã thành thương hiệu của doanh nhân Mỹ, ông Michell tin tưởng rằng nhờ giá dầu khí ngày càng tăng cao do nhu cầu thế giới, nhờ công nghệ bơm áp suất cao, kỹ thuật chế tạo ống chịu được áp lực lớn và nhiều kỹ nghệ tiến bộ vượt bậc khác, ông ta có thể đầu tư bỏ vốn lớn và kiếm lời qua việc sản xuất khí đốt tự nhiên bằng công nghệ khai thác khí đốt ẩn nấp trong các vỉa đá phiến, hầu bổ sung và tăng cường cho nguồn cung truyền thống đang mỗi ngày mỗi khan hiếm. Ông Mitchell đã âm thầm phát triển kỹ nghệ “nứt vỡ thủy lực” mang tính bước ngoặt. Cho đến năm 2002, thấy được tiềm năng của công nghệ nứt vỡ thủy lực, hãng Devon Energy của Mỹ đã mua lại Công ty Mitchell Energy & Development Corporation của ông Mitchell với giá lên đến 3,5 tỉ đô la. Họ kết hợp kỹ thuật nứt vỡ thủy lực với kỹ thuật khoan ngang để lần đầu tiên khai thác khí đá phiến một cách kinh tế và hiệu quả vào năm 2005.
Daniel Yergin, Phó chủ tịch Viện Nghiên cứu dầu khí IHS và là tác giả của hai bộ sách The Prize và The Quest, vốn được xem là “kinh thánh của ngành dầu khí” đã xem George Mitchell là cha đẻ của kỹ thuật khai thác dầu khí đá phiến với câu nói: “Ông Mitchell đã có khai phá quan trọng nhất trong lĩnh vực năng lượng của thế kỷ 21”. George Mitchell đã có may mắn thấy được thành quả đóng góp to lớn của mình vào kỹ nghệ dầu khí của Hoa Kỳ trước khi qua đời vào tháng 7-2013.

Quá trình khai thác dầu khí đá phiến diễn ra như thế nào?
Như đã đề cập ở trên, hiện nay Mỹ đã khai thác thương mại thành công dầu khí đá phiến bằng sự kết hợp hai kỹ thuật gọi là “nứt vỡ thủy lực” và “khoan ngang”.
“Nứt vỡ thủy lực”, cũng còn được gọi là “đập vỡ thủy lực” hay “bẻ gãy thủy lực” được lược dịch từ thuật ngữ hydraulic fracturing - thường được người Mỹ gọi tắt là fracking hay fracing. Đây là kỹ thuật bơm chất lỏng với áp lực lớn để làm nứt vỡ các vỉa đá phiến, qua đó chiết tách dầu và khí.
Khoan ngang (horizontal drilling): giống như khoan dầu khí thông thường nhưng đến độ sâu cần thiết thì mũi khoan được bẻ cua một góc 90 độ so với phương thẳng đứng và tiếp tục khoan theo phương ngang. Kỹ thuật này cho phép giếng khoan đi xuyên qua những phiến đá nằm sâu trong lòng đất.
Quá trình khai thác dầu khí đá phiến gồm các công đoạn chính như sau:
• Đầu tiên người ta khoan thẳng xuống từ 1-3 ki lô mét tùy theo độ sâu của các vỉa đá phiến có chứa dầu khí. Thường thì độ sâu này sâu hơn các mạch nước ngầm.
• Với kỹ thuật khoan ngang nêu trên, mũi khoan được bẻ cua góc 90 độ và tiếp tục khoan ngang vào các mạch đá phiến từ 1-2 ki lô mét tùy theo độ rộng vỉa. Công đoạn đặt ống và trám xi măng thành giếng tương tự như khai thác dầu khí thông thường được tiến hành liên tục.
• Sau khi đã có giếng khoan rồi, người ta dùng một thiết bị đặc biệt để cách ly từng vùng một trong giếng khoan ngang và tạo ra các lỗ nhỏ trên thành giếng lẫn đá phiến bằng việc kích nổ các chất nổ chứa trong thiết bị đó.
• Một hỗn hợp dung dịch gồm nước, cát và hóa chất (trong đó, nước và cát chiếm đến 99,5%) được bơm thẳng xuống giếng ngang với áp lực cao. Thành phần hóa chất trong hỗn hợp này thường được giữ kín bởi các công ty cung cấp dịch vụ khoan.
• Dưới áp lực cao, hỗn hợp dung dịch bị đẩy mạnh vào các lỗ nhỏ trên thành giếng (xem bước 3) tiếp xúc trực tiếp với đá phiến và khiến cấu trúc đá phiến bị phá vỡ tạo thành nhiều khe nứt li ti về mọi hướng. Có thể hình dung các khe nứt li ti này với hình ảnh các rễ con của một rễ cây tỏa ra mọi hướng trong lòng đất.
• Khi dừng bơm, hỗn hợp dung dịch sẽ được rút lên, tuy nhiên cát có mặt trong hỗn hợp dung dịch đã được đẩy lọt vào trong những khe nứt li ti của đá phiến và sẽ nằm kẹt lại trong đó khi nước rút. Bề rộng của các khe nứt này cao nhất chỉ vào khoảng vài mi li mét.
• Dầu và khí sẽ theo những khe nứt này di chuyển ngược lên và được tách lọc trên mặt đất bằng những phương pháp tương tự như đã áp dụng với dầu khí truyền thống.
Chi phí cho một lần khoan phi truyền thống này vào khoảng 6 triệu đô la (khoảng 120 tỉ đồng) tại Mỹ tùy theo độ sâu và đặc tính địa chất từng vùng. Chi phí sẽ giảm dần theo thời gian khi các kỹ thuật phụ trợ được phát triển, có hiệu quả cao.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online,  ngày 24/10/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/121624/Cuoc-cach-mang-dau-khi-da-phien.html. 

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

“Thủ phạm” kéo giảm giá dầu


Ảnh minh họa
Đầu năm 2014, dầu Brent có giá trên 107 USD/thùng (dung tích xấp xỉ 159 l), nhưng đến khoảng giữa tháng 6, giá 1 thùng vọt lên ngưỡng 114 USD. Đầu tháng 10 vừa rồi, giá lại tụt xuống mức 90 USD/thùng và chỉ trong vòng có 5-6 ngày gần đây, dầu Brent đã mất giá thêm khoảng 5 USD/thùng. Nguyên nhân nào đẩy giá dầu thô lao dốc? Khi nào thì dầu lên giá trở lại? Những phân tích dưới đây sẽ làm sáng tỏ phần nào các câu hỏi trên. 

Nguyên nhân chính trị

Đã có những thông tin đồn thổi, rằng Mỹ đã thuyết phục Arabia Saudi đẩy giá dầu thô Brent xuống 85USD/thùng nhằm gây áp lực đối với Nga để buộc Nga phải có những nhượng bộ trong việc giải quyết khủng hoảng đang diễn ra ở Ukraine.

Những ý kiến này dựa trên lý do trùng hợp với sự tăng giá của đồng USD trong những ngày qua. Hơn nữa, trong lịch sử, năm 1973 Saudi Arabia cũng đã từng “diễn trò” khi đồng ý bán dầu với giá rất rẻ cho những nước ủng hộ họ chống lại Israel.
Nhiều chuyên gia không đồng ý với quan điểm này. Theo họ, giá dầu thô giảm thuần túy chỉ bởi những lý do kinh tế.

… hay kinh tế 

Ngược với quan điểm trên, rất nhiều chuyên gia lại cho rằng Saudi Arabia mới chính là “nguyên nhân” gián tiếp làm dầu thô sụt giá.
Thời gian gần đây, tại Mỹ “cuộc cách mạng dầu khí đá phiến” đang được triển khai rầm rộ. Từ 1 nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, Mỹ đã trở thành nước sản xuất dầu lớn thứ 3 của toàn cầu. Hiện nay, lượng khai thác dầu thô của Mỹ đã đạt mức 8,7 triệu thùng/ngày (chỉ đứng sau Nga - trên 10 triệu thùng/ngày và Saudi Arabia - gần 10 triệu thùng/ngày). Theo dự báo, nếu vẫn với đà tăng trưởng như hiện nay, chỉ sau khoảng 5 năm nữa, Mỹ sẽ vượt Saudi Arabia và rất có thể sẽ “qua mặt” cả Nga. Chính vì lý do này mà “Vương quốc dầu mỏ” đã “mất ăn mất ngủ”. Theo luật của Mỹ, việc xuất khẩu dầu thô ra khỏi lãnh thổ nước này hiện vẫn bị cấm, vì vậy tất cả lượng dầu khai thác được đã và sẽ làm bão hòa thị trường nội địa.
Mỹ là khách hàng chủ yếu và thường xuyên của Nigeria, nhưng từ đầu tháng 9 đến nay, nước này đã buộc phải “ngắt bơm” để mặc lượng dầu đang “chảy” vào Mỹ “tràn ra” các thị trường khác.
Thị trường Mỹ coi như đã không còn. Kinh tế châu Âu thì vẫn đang trong tình trạng “ốm yếu”. Số liệu thống kê về sản xuất công nghiệp tháng 8/2014 của Đức – trụ cột của kinh tế châu Âu cũng rất bi đát, giảm 4% so với cùng kỳ này năm ngoái. Mọi nỗ lực của các nước xuất khẩu dầu mỏ trong giai đoạn này đều tập trung vào thị trường châu Á.
Giá 1 thùng dầu của Mỹ khai thác từ đá phiến hiện nay dao động từ 80-85USD. Nếu không ra tay sớm để đẩy giá xuống thì rất có thể chính Mỹ sẽ “tiếm” thị phần từ tay Saudi Arabia (trường hợp Mỹ tự dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu thô). Mức giá xuất khẩu thấp (dưới 90USD/thùng) sẽ làm cho các dự án dầu khí đá phiến của Mỹ gặp khó khăn. Đầu tư vào lĩnh vực này sẽ không còn hấp dẫn và vì vậy giảm cơ hội để Mỹ trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ.
Sau một thời gian dài việc khai thác dầu ở Libya bị ngưng trệ, thiếu hụt trên thị trường đều cơ bản do nguồn cung từ Saudi Arabia bù đắp. Tuy nhiên, hiện nay, mỗi ngày Libya đã bắt đầu rót ra “sân chơi” khoảng 900.000 thùng dầu thô. 
Iran là một trong những nước sản xuất dầu khí lớn của thế giới. Thời gian gần đây, do đã bắt đầu tìm thấy tiếng nói chung với Mỹ và phương Tây nên lượng cung về dầu thô từ Iran ra thế giới cũng tăng lên nhiều.

Mặc dù Iraq đang phải chống chọi với lực lượng “Nhà nước Hồi giáo” (IS) tự xưng, tuy nhiên, khu vực sản xuất nhiều dầu nhất hiện nay của Iraq lại là vùng phía Nam – Shiite gần như chưa bị ảnh hưởng của cuộc chiến vì thế sản lượng khai thác và xuất khẩu vẫn ngày một tăng.

Một lý do cũng làm ảnh hưởng ít nhất là trong ngắn hạn tới giá dầu thô đó là các mỏ dầu mà IS đang nắm giữ và khai thác. Theo đánh giá, thu nhập của IS từ dầu mỏ mỗi ngày khoảng 3-5 triệu USD. Do các giao dịch buôn bán không công khai nên IS bán dầu với giá rất rẻ chỉ khoảng 25-30 USD/thùng. Vì thế, dù bất ổn đang diễn ra ở Trung Đông và Ukraine, nhưng xem ra giá dầu vẫn chưa có xu hướng tăng trở lại.
Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong khoảng 1 năm trở lại đây không được như kỳ vọng, thống kê của quý III cho thấy tốc độ tăng trưởng chỉ đạt mức 7,3%/năm – thấp nhất trong vòng 5 năm qua. Vì vậy lượng tiêu thụ dầu thô tại quốc gia này cũng sẽ không đúng như những dự báo trước đó.

Suốt từ năm 2011 đến nay, hạn mức sản xuất dầu đã được các nước trong khối OPEC (gồm 12 nước xuất khẩu dầu mỏ) thống nhất công bố và duy trì chỉ ở mức 30 triệu thùng/ngày (chiếm khoảng 1/3 nhu cầu tiêu thụ của toàn thế giới). Có lẽ do những áp lực cạnh tranh và giành giật thị trường đã khiến Saudi Arabia phải hành động bằng biện pháp hạ giá xuất khẩu và “nhúc nhích” trong phạm vi mà hạn mức còn cho phép. Số liệu thống kê cho thấy, lượng khai thác của nước này trong tháng 8 là 9,6 triệu thùng/ngày, sang tháng 9 con số này đã là 9,7 triệu thùng/ngày. Giá bán giao ngay trong tháng 10 tại châu Á mà Saudi Arabia đang triển khai rẻ hơn giao chậm vài ba tháng sau đó từ 3-5 USD/thùng. Theo kế hoạch, ngày 27/11 tới đây khối OPEC sẽ tổ chức hội nghị mà tại đó, hạn mức mới của khối sẽ được đưa ra bàn thảo. 

Giá dầu thô giảm dường như cho thấy đang có cơn sóng ngầm bắt đầu xuất hiện trong nội bộ khối OPEC.

Một số nước như Saudi Arabia, Qatar, UAE, Kuwait... có giá thành dầu thô rẻ hơn hẳn so với các nước thành viên khác như Venezuela… đang tranh thủ cơ hội này để chiếm lĩnh thị trường. Nếu ngày 27/11 tới đây, tiếng nói chung không được tìm thấy thì chưa thể đoán biết giá dầu sẽ dừng ở ngưỡng nào? Nếu giá dầu xuống dưới mức 85 USD/thùng, rất có thể sẽ xảy ra “cuộc khủng hoảng mini” về dầu thô do các nước xuất khẩu vì hoảng loạn mà tranh bán để giành thị phần cho mình. 

Mới đây, cố vấn về các vấn đề dầu khí của Iran Mehran Amirmoeyni đã cảnh báo, nếu OPEC không cắt giảm sản lượng để duy trì mức giá cao khả dĩ có thể chấp nhận được thì khối này có thể sẽ lặp lại sai lầm đã diễn ra vào năm 1998. Vào thời điểm đó, do nhu cầu thị trường đang có xu hướng giảm nhưng việc sản xuất và chào bán vẫn gia tăng nên giá dầu đã giảm xuống dưới 10 USD/thùng. Vậy mà, theo sau Saudi Arabia, tuần trước Công ty National Oil thuộc sở hữu của Chính phủ Iran cũng đã bắt đầu chào bán dầu thô cho thị trường châu Á ở mức giá thấp.

Trong ngày thứ 3 (14/10), Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) đã phải hạ mức đánh giá dự báo về tăng trưởng trong việc sử dụng dầu mỏ trên toàn thế giới từ 1,3 triệu thùng/ngày xuống mức tăng thêm chỉ còn 700.000 thùng/ngày. Và mặc dù theo dự báo của IEA, mức sử dụng bình quân 1 ngày cho năm 2014 của toàn cầu là 92,4 triệu thùng, nhưng theo số liệu thống kê của tháng 9 vừa qua thì mức sản xuất bình quân trên toàn thế giới đã vượt xa nhu cầu, đạt mức 93,8 triệu thùng/ngày!
Cung vượt xa cầu ắt đẩy giá dầu thô lao dốc. Dầu Brent đã chạm mức giá 85USD/thùng vào đêm 14/10. Nếu đà xuống giá không ngừng lại thì tất cả các nước sản xuất dầu mỏ sẽ rất dễ lâm vào trạng thái “băng hà” và theo hiệu ứng Domino kinh tế toàn cầu cũng sẽ hứng chịu nhiều hệ lụy vì các nguồn tiền đầu tư bị tắc, cổ phiếu của các công ty năng lượng và đầu tư sẽ bị mất giá…
Những ngày đầu tháng 10/2014, trong lúc dầu thô đang trên đà giảm giá thì các chuyên gia của Bank of America Merrill Lynch vẫn lạc quan dự đoán mức giá bình quân trong năm 2015 là 108 USD/thùng – thấp hơn 2 USD so với dự báo mức giá bình quân cho năm 2014.
Trong tháng 9, Bloomberg đã thu thập ý kiến của các chuyên gia phân tích thuộc 18 ngân hàng dự báo về giá dầu cho quý IV năm nay, kết quả vẫn rất lạc quan: 100,50 USD/thùng!

Rất có thể trong 1-2 tháng nữa dầu sẽ tăng giá trở lại như các chuyên gia đã dự báo vì mùa đông lạnh giá đang cận kề, nhu cầu sử dụng dầu sẽ tăng lên theo như thông lệ. Hơn nữa chi phí khai thác cho 1 thùng dầu ngày nay đã không còn ở mức thấp như trong quá khứ. Và nhu cầu chi tiêu cho mỗi quốc gia xuất khẩu dầu mỏ cũng ngày một tăng. Để đảm bảo ngân sách quốc gia không bị thâm thủng, các quốc gia này đều có ngưỡng giá chấp nhận được.
 
Dầu phải đạt mức giá bao nhiêu để ngân sách của các quốc gia xuất khẩu không bị thâm thủng? (Nguồn: Reuters, Citigroup)

TT
QUỐC GIAGIÁ CẦN DUY TRÌ (USD/thùng )
1Yemen214
2Libya184
3Venezuela161
4Bahrain132
5Iran130
6Iraq114
7Angie113
8Russia105
9Arabia Saudi89
10Oman82
11UAE74
12Qatar71
13Kuwait44
Xem bảng thống kê trên sẽ thấy bức tranh chung về giá dầu thô (mà đại diện là dầu Brent) cho mỗi quốc gia xuất khẩu dầu mỏ và nếu giá dầu xuống dưới 85 USD/thùng thì hầu hết các thành viên trong “ngôi nhà chung” đều không thể làm ngơ.

Có tin đồn rằng Saudi Arabia đang sẵn sàng duy trì mức giá 80 USD/thùng trong vòng 1,5 đến 2 năm để thống lĩnh thị trường. Tin đồn thực ra vẫn chỉ là tin đồn. Liệu chính “Vương quốc dầu mỏ” có trụ vững khi giá dầu đã thấp và còn thấp hơn 80 USD/thùng? Chính phủ LB Nga cũng đang phải căng mình lên phương án đối phó với kịch bản giá dầu chỉ còn 60USD/thùng.
Mọi dự đoán vẫn chỉ là dự đoán. Thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời chính xác!

Phạm Hoàng

Nguồn: Báo Khoa Học Phổ Thông ngày 16/10/2014 truy cập từ http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/38804/%E2%80%9Cthu-pham%E2%80%9D-keo-giam-gia-dau.html. 

Giá dầu biến động - do đâu?













(TBKTSG) - Giá dầu đang giảm mạnh, tính từ giữa tháng 6-2014 đến giữa tháng 10-2014 đã giảm trên 25 đô la/thùng.
Chỉ đến khi giá dầu xuống mức xấp xỉ 80 đô la Mỹ/thùng, người ta mới sực nghĩ đến cuộc cách mạng dầu đá phiến đang diễn ra, có tiềm năng thay đổi tận gốc rễ tình hình địa chính trị, kinh tế cũng như cán cân quyền lực trên toàn thế giới.
Thế nhưng cuộc cách mạng dầu khí đá phiến là gì? Và nó có ảnh hưởng thế nào đến giá dầu thô trên thế giới?
Một chút lịch sử
Xưa nay nói đến dầu, người ta chỉ nghĩ đến dầu thô khai thác từ những giếng dầu truyền thống trên đất liền hay ngoài biển. Và nói đến dầu thô, nhiều người cũng nhớ ngay đến dự báo của King Hubbert từ năm 1956 rằng lượng dầu khai thác được sẽ đạt đỉnh vào thập niên 1970 rồi giảm dần đến chỗ cạn kiệt. Trong nhiều năm người ta tin vào tiên đoán này, nhất là khi giá dầu ngày càng tăng vì chi phí khai thác cao, xung đột tranh giành ảnh hưởng lên các vùng nhiều dầu làm dầu mang tính địa chính trị đậm nét. Chỉ mới cách đây một thập niên, người Mỹ cũng nghĩ rằng nguồn cung dầu thô của họ sẽ cạn kiệt dần nên mọi chính sách đối ngoại dường như tập trung vào “lợi ích của Hoa Kỳ” mà nói trắng ra là các giếng dầu ở Trung Đông.
Thế rồi mọi chuyện thay đổi khi Mỹ hoàn thiện công nghệ khai thác dầu khí đá phiến trong đầu thập niên 2000. Nói ngắn gọn, nhờ vào sự phát triển của hai công nghệ ép vỉa thủy lực (hydraulic fracturing, còn được dịch thành nứt vỡ thủy lực) và khoan ngang, Mỹ đã vượt qua các nước khác, đi tiên phong trong lĩnh vực khai thác dầu khí đá phiến. (Xem thêm bài Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến).
Trong khi trữ lượng dầu thô truyền thống của Mỹ là 164 tỉ thùng thì trữ lượng dầu đá phiến cũng lên đến 58 tỉ thùng, nâng tổng trữ lượng dầu thô của Mỹ vào khoảng 222 tỉ thùng. Để so sánh, các con số này của toàn thế giới lần lượt là 3.012 tỉ thùng dầu truyền thống, 345 tỉ thùng dầu đá phiến và tổng trữ lượng là 3.357 tỉ thùng. Tính ra thì trữ lượng dầu đá phiến của Mỹ chiếm đến một phần tư tổng trữ lượng dầu mỏ của nước này; trong khi trên thế giới, dầu đá phiến chỉ chiếm một phần mười tổng trữ lượng.
Từ năm 2005-2013, sản lượng khai thác dầu và khí đá phiến ở Mỹ tăng từ 5% lên đến 35% tổng lượng dầu khí khai thác ở nước này. Hiện Mỹ đã vượt Nga, trở thành nước sản xuất khí đốt lớn nhất thế giới. Còn dầu thì từ năm 2008 đến nay, sản lượng Mỹ khai thác đã tăng đến 70%, lên mức 8,7 triệu thùng/ngày. Theo nhiều dự đoán đáng tin cậy, trong vòng vài năm tới lượng dầu thô khai thác ở Mỹ sẽ vượt mức đỉnh 10 triệu thùng/ngày từng đạt được vào thập niên 1970, và tiếp tục có cơ qua mặt cả Nga và Ảrập Saudi thành nước sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới. Còn nếu tính tổng sản lượng dầu thô quy đổi - bao gồm dầu thô và các loại khí thiên nhiên dạng lỏng (natural gas liquids - NGL) - thì Mỹ đã đạt mức 11,5 triệu thùng/ngày và đã vượt qua cả Nga lẫn Ảrập Saudi lên hàng đầu thế giới vào tháng 7-2014 vừa qua, theo thống kê chính thức của Cơ quan Năng lượng quốc tế IEA.
Tại sao giá dầu thô giảm mạnh
Gần như ngay tức thì khi cuộc cách mạng dầu khí đá phiến bùng nổ, nhu cầu nhập khẩu dầu thô của Mỹ giảm xuống rõ rệt. Nên nhớ cách đây khoảng 10 năm Mỹ còn phải nhập gần 11 triệu thùng dầu thô mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu trong nước và chỉ xuất khẩu khoảng 1,5 triệu thùng dầu thành phẩm (mà ta có thể gọi nôm na là xăng dầu). Nhưng tính đến cuối năm 2013, Mỹ chỉ còn phải nhập 7 triệu thùng dầu thô mỗi ngày và xuất khẩu đến gần 4 triệu thùng dầu thành phẩm. Ở quốc gia tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới mà cầu giảm trong khi cung lại tăng nên chẳng lạ gì giá dầu thế giới có thể coi là bình ổn trong vài năm gần đây và giảm mạnh trong thời gian mấy tháng vừa qua. Bất kể các cuộc khủng hoảng xung đột xảy ra tại các khu vực xuất khẩu dầu thô như Libya (vụ chính quyền Tổng thống Gaddafi bị lật đổ), tại Trung Đông (với việc Nhà nước Hồi giáo (IS) tuyên bố thành lập), hay vụ xung đột giữa Nga và Ukraine, giá dầu thô trên thế giới không hề tăng như xưa nữa.
Khi giá dầu giảm dưới mức 80 đô la/thùng, nhiều nước sản xuất dầu thô nếu tính toán không khéo sẽ bị lỗ nặng. Thế nhưng chi phí sản xuất dầu đá phiến thì ngày càng giảm. Nhờ liên tục cải tiến công nghệ và sự cạnh tranh giữa các công ty cung cấp dịch vụ khoan, chi phí khai thác mỗi thùng dầu đá phiến ở nhiều nơi trên nước Mỹ chỉ còn khoảng 30 đô la/thùng từ năm 2012, theo một báo cáo của Morgan Stanley. Như vậy nhiều nhà sản xuất dầu ở Mỹ còn có thể chịu được dù giá rớt xuống mức 50 đô la/thùng.
Tất cả những yếu tố đề cập trên đang được đặt lên bàn cân của các nước trong một ván cờ hoàn toàn mới lạ so với trước. 
Kẻ cười người khóc
Hiện tượng giá dầu giảm lần này không phải do biến động chính trị mà do cung tăng bền vững, đều đặn nên chắc chắn mức giá giảm sẽ còn tiếp tục cho đến chừng nào các nước sản xuất dầu thô truyền thống như Ảrập Saudi (đại diện tiêu biểu của khối OPEC) hay Nga chịu không nổi phải giảm sản lượng để giữ giá dầu, tránh sự thâm hụt ngân sách thêm trầm trọng. Có vẻ như Ảrập Saudi và cả Nga đang muốn chơi trò “cù cưa” với Mỹ nhằm đo lường xem Mỹ trụ lại được bao lâu khi giá dầu giảm. Tuy nhiên, có thể thấy ngay là “trò chơi nguy hiểm” này cũng sẽ chẳng làm Mỹ suy yếu đi bao nhiêu mà ngược lại, có thể rơi vào trường hợp “gậy ông đập lưng ông”.
Lý do dự đoán Mỹ không suy yếu bao nhiêu là vì: Mỹ vẫn chưa bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu thô cho nên sản lượng dầu đá phiến tăng đều đặn hoàn toàn được cung cấp cho thị trường nội địa. Giá dầu giảm có chăng sẽ làm giảm mức tăng sản lượng dầu thô của quốc gia này (vì nguồn đầu tư vào hoạt động khai thác dầu sẽ giảm) chứ không thể ảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế đa dạng và đang trên đà hồi phục. Đó là chưa kể nguồn cung khí đốt khai thác từ đá phiến dồi dào dẫn đến giá khí đốt tại Mỹ vẫn rất rẻ so với bình diện chung kéo theo hàng loạt ngành công nghiệp khác phát triển và thu hút nhiều đầu tư từ nước ngoài. Giá khí đốt tại Mỹ hiện nay vào khoảng 4 đô la trên một đơn vị năng lượng BTU so với 11-12 đô la ở thị trường châu Âu và 16-17 đô la tại thị trường châu Á.
Một vấn đề nữa cần chú ý là loại dầu khai thác từ đá phiến là dầu ngọt và nhẹ trong khi dầu của Ảrập Saudi là loại nặng và chua (vì chứa nhiều lưu huỳnh) nên dù Ảrập Saudi có “đổi ý” muốn giảm sản lượng hòng bình ổn giá dầu cũng không thay đổi được mức cung ngày càng tăng cao của loại dầu ngọt và nhẹ. Nghĩa là họ cũng chẳng còn khả năng xoay chuyển, thao túng tình hình như những thập kỷ trước.
Nền kinh tế thế giới cũng chưa có biến chuyển gì mới nên phía cầu xem như sẽ không tăng mạnh như những năm trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008.
Trước mắt những nước nhập khẩu dầu nhiều như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ có lợi; các nước xuất khẩu dầu mạnh như Nga và Trung Đông thì đang rầu thúi ruột bởi những khía cạnh vừa được phân tích. Chính vì giá dầu giảm mạnh đã đẩy nền kinh tế Nga rơi vào khó khăn, đồng rúp mất giá chứ chưa hẳn là kết quả của lệnh cấm vận do Mỹ và châu Âu áp đặt. Và chính giá dầu làm xung đột ở Trung Đông, bất kể các tít báo IS chặt đầu, đốt phá khắp nơi, đã không bùng phát lên dữ dội như ngày xưa. Vai trò Trung Đông như một nguồn cung dầu quan trọng cho thế giới vẫn còn đó nhưng một khi giá dầu không còn bị giữ làm con tin để mặc cả nữa thì nơi này không còn là điểm nóng địa chính trị.
Nếu giá dầu Brent rơi xuống mức 80 đô la/thùng thì theo tính toán của tờ Financial Times, các nước OPEC sẽ hụt mất 200 tỉ đô la trong 1.000 tỉ đô la doanh thu từ dầu thô.
Trên bình diện cả thế giới thì giá dầu giảm như hiện nay là một cú hích theo dạng kích cầu quan trọng, trị giá chừng 1,8 tỉ đô la mỗi ngày, hay 600 tỉ đô la tính theo năm. Ví dụ, mỗi gia đình Mỹ hiện đang xài bình quân 2.900 đô la/năm tiền xăng dầu và khí đốt thì mức giảm tương đương khoản tiền tiết kiệm chừng 600 đô la để chi tiêu vào việc khác.
Tóm lại, nhờ vào cuộc cách mạng dầu khí đá phiến đang diễn ra mạnh mẽ tại Hoa Kỳ mà các nước OPEC không còn có thể thao túng thị trường dầu mỏ của thế giới như trước đây. Cuộc diện địa chính trị thế giới có thể còn nhiều biến đổi trong thời gian tới.
Nguyễn Vạn Phú


Nguồn: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 23/10/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/121623/Gia-dau-bien-dong---do-dau?.html.  





Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

15 nước dự trữ dầu thô nhiều nhất thế giới

Liên tiếp nhiều phiên gần đây, giá dầu thô niêm yết trên sàn giao dịch New York (Mỹ) đứng trên ngưỡng 100 USD/thùng. Điều này được xem là một trong những yếu tố sẽ gây ra tình trạng lạm phát nghiêm trọng trên thế giới.
Tuy nhiên, với các nước có trữ lượng dầu thô lớn, thì việc giá dầu tăng cao lại là một lợi thế giúp họ giàu có hơn so với phần còn lại trên trái đất. Vậy thực tế thế giới đang có trữ lượng dầu là bao nhiêu và nước nào đang giữ nhiều nhất.

Hãng tin CNBC đã dựa vào số liệu công bố gần đây của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ và tài liệu của Cục Tình báo trung ương Mỹ, đưa ra danh sách tổng quan về 15 quốc gia đang có trữ lượng dầu mỏ phong phú nhất hành tinh.

Báo cáo cho thấy, ngoài các thành viên của Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), nhiều nước khác cũng đang nắm trong tay một lượng lớn dầu thô. Đáng chú ý là, những nước tiêu thụ nhiều dầu đồng thời có nguồn dự trữ phong phú.

Dưới đây là thông tin chi tiết về các quốc gia có dự trữ dầu lớn hàng đầu thế giới.

Tổng quan thế giới


Trữ lượng dầu: 1.350 tỷ thùng (số liệu của Mỹ công bố năm 2011)

15. Brazil

Trữ lượng dầu: 12,86 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 0,87%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 2,75 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 2,65 triệu thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 163.000 thùng (Tháng 9/2011)

14. Trung Quốc

Trữ lượng dầu: 14,8 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 1,01%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 4,07 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 9,06 triệu thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 8.000 thùng

13. Mỹ

Trữ lượng dầu: 20,68 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 1,41%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 9,68 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 19,15 triệu thùng

12. Qatar

Trữ lượng dầu: 25,38 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 1,72%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 1,44 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 166.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 16.000 thùng

11. Kazakhstan

Trữ lượng dầu: 30 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 2,04%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 1,61 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 249.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 21.000 thùng (Tháng 12/2010)

10. Nigeria

Trữ lượng dầu: 37,2 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 2,53%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 2,46 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 279.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 529.000 triệu thùng (Tháng 9/2011)

9. Libya

Trữ lượng dầu: 44,3 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 3,15%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 1,79 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 289.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 71.000 thùng

8. Nga

Trữ lượng dầu: 60 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 4,08%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 10,27 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 2,2 triệu thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 275.000 thùng (Tháng 9/2011)

7. Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE)

Trữ lượng dầu: 97,8 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 6,65%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 2,81 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 545.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 10.000 thùng (Tháng 9/2010)

6. Kuwait

Trữ lượng dầu: 104 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 7,07%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 2,45 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 354.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 145.000 thùng (Tháng 9/2011)

5. Iraq

Trữ lượng dầu: 115 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 7,82%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 2,64 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 694.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 403.000 thùng (Tháng 9/2011)

4. Iran

Trữ lượng dầu: 137 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 9,31%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 4,25 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 1,85 triệu thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 0

3. Canada

Trữ lượng dầu: 175,2 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 11,91%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 3,48 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 2,21 triệu thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 2,32 triệu thùng (Tháng 9/2011)

2. Venezuela

Trữ lượng dầu: 211,2 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 14,35%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 2,38 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 746.000 thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 759.000 thùng (Tháng 9/2011)

1. Saudi Arabia

Trữ lượng dầu: 262,6 tỷ thùng
Chiếm tỷ lệ trong tổng lượng dự trữ toàn cầu: 17,85%

Số liệu thống kê hàng ngày (mức ước tính năm 2010):

Tổng sản lượng: 10,52 triệu thùng
Lượng tiêu thụ: 2,64 triệu thùng
Xuất khẩu sang Mỹ: 1,47 triệu thùng (Tháng 9/2011)