Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tư nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tư nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

80% CPU Intel trên thế giới sẽ sản xuất tại Việt Nam








Bà Sherry Boger, Tổng giám đốc Intel Products Việt Nam giới thiệu CPU đầu tiên được sản xuất tại Nhà máy Intel đặt tại Khu công nghệ cao TPHCM -Ảnh: Hùng Lê
(TBKTSG Online) - Ngày 29-7, Công ty Intel Products Việt Nam công bố lần đầu tiên sản xuất bộ vi xử lý (CPU) tại nhà máy lắp ráp và kiểm định chíp của công ty tại TPHCM và dự kiến 80% sản lượng CPU của Intel trên thế giới sẽ sản xuất tại đây vào giờ này năm sau.
 
Bà Sherry Boger, Tổng giám đốc Intel Products Việt Nam cho biết như trên tại buổi giới thiệu sản phẩm CPU tại nhà máy của công ty đặt tại Khu công nghệ cao TPHCM (SHTP).

Theo bà Boger, sản phẩm CPU này thuộc dòng Haswell - Intel Core thế hệ thứ 4 - bộ vi xử lý thuộc thế hệ mới và hiện đại hiện nay của Tập đoàn Intel dùng cho PC (máy tính cá nhân gồm máy tính để bàn và laptop).

Theo ông Lau Chze Tat, Giám đốc Nhà máy Intel Products Việt Nam, quá trình triển khai sản xuất bộ vi xử lý Haswell đã diễn ra trong hai tháng, từ đào tạo ban đầu cho đến cung cấp sản phẩm cuối cùng.

Thế hệ vi xử lí thứ Core i thứ 4 của Intel tên Haswell được công bố tăng 15% về tốc độ xử lí. Điều tuyệt vời hơn ở Haswell là nó còn được tăng cường khả năng xử lí đồ họa, giảm tiêu thụ năng lượng...
Để làm ra sản phẩm này nhà máy Intel ở Việt Nam phải cho nhập 71 máy và thiết bị chuyên dùng từ các nhà máy của Intel ở Malaysia và Costa Rica cũng như đưa 105 kỹ sư Việt Nam đi đào tạo học tập kinh nghiệm tại nhà máy Intel ở Malaysia. Theo kế hoạch sắp tới, nhà máy Intel Việt Nam sẽ nhập khẩu thêm 159 máy móc thiết bị chuyên dùng để sản xuất dòng sản phẩm này.

Tổng Giám đốc Intel Products Việt Nam cho rằng nhà máy của Intel tại SHTP đang đi đúng lộ trình và nhiệm vụ đã đề ra ban đầu: đầu tiên là sản xuất chipset di động dành cho máy tính xách tay và các thiết bị di động, sau đó là sản phẩm Atom SoC (System on a Chip) vào cuối tháng 12 năm 2013, và bây giờ là sản phẩm CPU Haswell. Việc này sẽ góp phần nâng cao năng lực lắp ráp và kiểm định của Intel trên toàn cầu.

Theo bà Boger việc tập đoàn Intel chọn nhà máy Intel Việt Nam sản xuất lắp ráp dòng sản Haswell - Intel Core này vì đây là nhà máy lớn nhất của Intel trên thế giới. Mặt khác, sau khoảng 4 năm hoạt động sản phẩm làm ra tại nhà máy này ít bị hỏng nhất so với các nhà máy khác của Intel. Hầu như sản phẩm làm ra tại nhà máy Intel ở SHTP không bị hỏng.

Theo Phó Chủ tịch UBND TPHCM Lê Mạnh Hà, việc Intel Việt Nam sản xuất thành công sản phẩm CPU Haswell sẽ tác động mạnh đến các ngành công nghệ ở Việt Nam; đồng thời cho thấy Việt Nam có thể lĩnh hội và chiếm lĩnh các công nghệ tiên tiến của thế giới.

Năm ngoái kim ngạch xuất khẩu của Intel Việt Nam đạt hơn 1,8 tỉ đô la Mỹ. Với việc đưa dòng sản phẩm mới có giá trị cao hơn này ra thị trường đang được kỳ vọng sẽ mang về giá trị xuất khẩu cao hơn trong thời gian tới.

Tập đoàn Intel công bố kế hoạch đầu tư 1 tỉ đô la Mỹ vào nhà máy lắp ráp và kiểm tra linh kiện bán dẫn đặt tại khu công nghệ cao TPHCM vào năm 2006. Theo bà Boger, hiện nay Intel đã giải ngân được khoảng 45% tổng vốn đầu tư và kế hoạch đầu tư đang đúng theo lộ trình đề ra.

Nhiều ý kiến cho rằng nhà máy Intel ở Việt Nam làm công đoạn cuối, không mang lại giá trị gia tăng cao trong sản phẩm và các công đoạn sản xuất cũng đơn giản. Tuy nhiên theo Intel Products Việt Nam, lắp ráp và kiểm định được xem là một phần quan trọng của quy trình sản xuất trong nhà máy bán dẫn của Intel. Đó là bước cuối cùng trong sản xuất các sản phẩm silicon của Intel để sẵn sàng đưa các sản phẩm đến với khách hàng trên toàn thế giới. Quy trình xử lý bộ vi xử lý sản phẩm tại đây đòi hỏi người lao động kỹ năng và những kỹ thuật sản xuất không đơn giản.

Tính đến cuối tháng 6-2014,nhà máy Intel tại Việt Nam đã tạo hơn 1.000 công việc trong ngành công nghệ cao, và thu hút được 80 nhà cung cấp, trong đó có nhà cung cấp Việt Nam.

Hiện nhà máy Intel Việt Nam đã ngưng lắp ráp và sản xuất chipset di động Intel. Tuy nhiên, khả năng nhà máy này sẽ sản xuất sản phẩm Skylake - là nền tảng 2015 nối tiếp nền tảng Haswell / Broadwell trong năm 2014 của Intel, bao gồm nhiều cải tiến mới.
Hùng Lê

Nguồn:  "Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online" ngày 29/07/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/118178/80-CPU-Intel-tren-the-gioi-se-san-xuat-tai-Viet-Nam.html.

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

Việt Nam trước cơ hội từ dịch chuyển FDI

Việt Nam sẽ hưởng lợi nếu tận dụng cơ hội từ sự dịch chuyển của dòng vốn FDI...Việt Nam trước cơ hội từ dịch chuyển FDI
Nếu tính tỷ lệ với GDP, Việt Nam là nước lớn đứng thứ hai về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đông Nam Á sau Singapore.
Trong bài viết với nhan đề “Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chuyển hướng sang các nước Đông Nam Á và Ấn Độ như thế nào?” chuyên gia Trinh Nguyễn từ ngân hàng HSBC đã đưa ra một số nhận định rất đáng chú ý về dòng vốn FDI vào Việt Nam.

Tác giả cho rằng trong 20 năm qua, Trung Quốc là nước tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trong số các nước đang phát triển. Nhưng với chi phí ngày càng tăng do lương nhân công cao hơn và đồng Nhân dân tệ tăng giá, Trung Quốc đang phải đối mặt với việc nhiều công ty đa quốc gia tìm kiếm mở rộng sản xuất sang các quốc gia khác.

Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam sẽ hưởng lợi từ quá trình dịch chuyển này do nguồn lao động dồi dào và thị trường nội địa phát triển mạnh. Quá trình dịch chuyển đang diễn ra khi các nước ASEAN, đặc biệt là những nước với đặc điểm nhân khẩu học mạnh như Indonesia, Philippines và Việt Nam, cũng như Ấn Độ, có thể dễ dàng nâng cao hiệu suất kinh tế bằng cách thu hút những ngành sản xuất cần nhiều lao động hơn.

Các nước này đều nhận thức rõ về thành công của Trung Quốc trong việc sử dụng FDI để thúc đẩy xuất khẩu và công nghệ. Việc các nước này quản lý dòng FDI vào và những nỗ lực để thu hút thêm dòng vốn này, sẽ cung cấp một bức tranh rõ ràng về khả năng của họ trong việc nâng cao hiệu suất và kiến thức công nghệ, hai thành tố quan trọng cho tăng trưởng trong dài hạn.

Trong thập kỷ trước, dòng vốn FDI đã bắt đầu chảy vào ASEAN và Ấn Độ để tận dụng đặc điểm nhân khẩu học thuận lợi và tốc độ tăng trưởng nhanh. Nhưng các công ty đa quốc gia cũng cân nhắc những yếu tố khác khi quyết định đầu tư, bao gồm môi trường chính sách và sự thuận lợi khi làm ăn kinh doanh.

Gần đây, phần lớn đầu tư từ Nhật Bản đã chuyển tới các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam để đa dạng hóa rủi ro từ Trung Quốc. Điều này có ý nghĩa sâu sắc đối với các nước này nếu họ thực hiện chính sách để tận dụng lợi ích từ sự dịch chuyển.

Các công ty từ nhiều nước khác cũng góp phần vào trào lưu dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc khi họ đi tìm những cơ sở rẻ hơn, chẳng hạn Ấn Độ là một điểm đến hàng đầu khi sở hữu lực lượng dân số cùng kích cỡ.

Tuy nhiên, môi trường kinh doanh phức tạp, chính sách FDI hạn chế, cơ sở hạ tầng nghèo nàn có thể làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả là các nước khác như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và Việt Nam, mặc dù không có kích cỡ dân số tương tự, tiếp tục mang lại cơ hội cho các nhà đầu tư vì họ cũng có những câu chuyện nhân khẩu học rất hay để kể.

Philippines và Việt Nam là hai nước có lực lượng lao động lớn và thị trường đủ lớn để duy trì nhu cầu nội địa mạnh mẽ. Trong bảy năm, dân số Philippines sẽ tăng lên 110 triệu người (dự báo của Liên hiệp quốc) từ con số 96 triệu năm 2012. Mặc dù Việt Nam có một dân số nhỏ hơn (89 triệu), nhưng nguồn cung lao động mạnh mẽ và rẻ ở khu vực nông thôn (khoảng 70% dân số sống ở nông thôn) cho thấy Việt Nam có lợi thế về sản xuất cần nhiều lao động.

Việt Nam có một mô hình đặt trọng tâm xuất khẩu tương tự với Trung Quốc. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút FDI trong lĩnh vực sản xuất thông qua chính sách và các ưu đãi một cách mạnh mẽ hơn Philippines nhiều. Trong khi tiềm năng về kích cỡ thị trường nhỏ hơn, Việt Nam cũng sẽ gia nhập câu lạc bộ 100 triệu vào giữa các năm 2020. Nếu thu nhập tiếp tục tăng, Việt Nam sẽ trở thành một đích đến ngày càng hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

Nếu tính tỷ lệ với GDP, Việt Nam là nước lớn đứng thứ hai về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đông Nam Á sau Singapore. Thành quả này có được là do Việt Nam có nguồn lao động giá rẻ nhất trong số các nước Đông Nam Á và môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn so với Ấn Độ, Philippin, Indonesia, mặc dù Việt Nam vẫn còn thua đáng kể so với Thái Lan và Malaysia.

Tỷ lệ đô thị hóa vẫn còn thấp ở mức 30% và sẽ tiếp tục tăng tốc trong vài năm tới. Điều này có nghĩa rằng sự gia tăng năng lực sản xuất từ những người nông dân di cư vào thành phố trong hai thập kỷ qua sẽ còn tiếp tục diễn ra. Cùng với điều này, hơn 60% dân số Việt Nam dưới 35 tuổi và chúng tôi hy vọng lực lượng lao động sẽ gia tăng trong hai thập kỷ tới. Điều này có nghĩa là Việt Nam sẽ có nhu cầu trong nước nhiều hơn và áp lực tiền lương ít hơn các nước khác.

Trong vài năm qua, Việt Nam đã phần nào đánh mất hào quang là một trong những nước thực hiện tốt nhất đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khu vực do lạm phát không ổn định và quản lý kinh tế chưa hiệu quả. Điều này đã làm dòng vốn FDI chậm lại nhưng Việt Nam vẫn là một đất nước phát triển mạnh mẽ so với quy mô quốc gia.

Điều này giúp Việt Nam có thị phần trong thị trường sản xuất hàng hoá cần tay nghề thấp như dệt may và giày dép. Xuất khẩu của Việt Nam cũng đang gia tăng về giá trị do đầu tư nước ngoài trong ngành điện tử của Hàn Quốc và Nhật Bản.

Việc Nhật Bản tăng nhanh đầu tư vào Việt Nam được xem là dấu hiệu tích cực cho năng lực sản xuất và tăng trưởng trong ngành sản xuất trong tương lai. Năm 2011, đầu tư của Nhật Bản chiếm 25% tổng số dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, và từ đầu năm đến tháng 10.2012, con số này đã tăng tới 58%.

Theo một khảo sát của Tổ chức Xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO), các nhà đầu tư Nhật Bản đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn do chi phí sản xuất thấp, lực lượng lao động dồi dào và ổn định về mặt chính trị. Họ đánh giá Việt Nam có chi phí rẻ hơn và ổn định hơn so với Thái Lan và Trung Quốc.

Tuy nhiên, Việt Nam tụt hậu so với cả Trung Quốc và Thái Lan về kết nối với các thị trường trong khu vực và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản có đầu tư tại đây. Đồng Yên Nhật mạnh hơn tiền Đồng là một điểm tích cực nữa, cùng với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản cho các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Cuộc khảo sát cho thấy nếu Việt Nam tiếp tục cải thiện các điều kiện kinh tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng tăng tốc. Các lĩnh vực quan ngại bao gồm cơ sở hạ tầng, tiếp cận với nguyên vật liệu thô, thuế hải quan, thủ tục hành chính, tham nhũng và hàng hóa trung gian cho sản xuất. Ngay cả trong môi trường kinh doanh hiện tại, nhiều công ty Nhật Bản đang đổ xô đến Việt Nam để giảm chi phí và mở rộng cơ sở sản xuất của họ.

Với việc Chính phủ ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô hơn là tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, chúng ta vẫn còn hy vọng Việt Nam sẽ có nhiều tiến bộ. Trong thập kỷ tới, khi chi phí sản xuất tăng lên ở Trung Quốc và Thái Lan, Việt Nam có thể được định vị để lấp đầy khoảng trống và di chuyển lên cao trong chuỗi giá trị.

“Nhìn chung, chúng tôi rất lạc quan về tăng trưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở đa số các nước Đông Nam Á và Ấn Độ. Nếu các công ty đa quốc gia ưu tiên nhiều cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, họ có thể đem lại công nghệ cần thiết để xây dựng năng lực sản xuất trong nước. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo chính trị và các nhà hoạch định chính sách phải đảm bảo rằng các khoản đầu tư này được sử dụng phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước họ. Nếu họ thực hiện chính sách để thúc đẩy khả năng tiếp thu công nghệ và cải thiện môi trường kinh doanh, họ có thể nâng cao năng lực sản xuất và tạo ra một nguồn tăng trưởng bền vững về lâu dài”, tác giả viết.
HOÀI NGÂN

Nguồn: VN ECONOMY ngày 11/01/2013 truy cập từ http://vneconomy.vn/20130111043019943P0C9920/viet-nam-truoc-co-hoi-tu-dich-chuyen-fdi.htm.

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

25 năm Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Nhìn lại để “nâng chất” dòng vốn FDI


(baodautu.vn) Gần 25 năm đã qua kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời vào tháng 12 năm 1987. Thành tựu nhiều, nhưng không phải là không có những hạn chế trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
 
Giờ là lúc cần phải dựa trên hệ tiêu chí khoa học để đánh giá khách quan, toàn diện kết quả, tác động của FDI, phát hiện những vấn đề cần giải quyết làm căn cứ để đề ra định hướng mới, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dòng vốn FDI trong thời gian tới.Dấu ấn từ những con số
Cuối năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua, khi nước ta còn trong vòng xoáy cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, lạm phát phi mã, sản xuất và lưu thông chậm phát triển, làm không đủ ăn, buộc phải dùng tem phiếu “phân phối sự thiếu thốn”; khi các nước “phương Tây” cấm vận đối với Việt Nam, quan hệ kinh tế đối ngoại hầu như chỉ bó hẹp trong khung khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế với 12 nước xã hội chủ nghĩa (cũ).
Luật Đầu tư nước ngoài 1987 được dư luận quốc tế đánh giá cao. Hoạt động FDI là khâu đột phá trong hội nhập kinh tế quốc tế nhờ thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam có sức hấp dẫn hàng trăm nhà đầu tư quốc tế, trong đó có các nước đang thi hành chính sách cấm vận đối với nước ta, điển hình là Mỹ. Mặc dù cuối năm 1994, Tổng thống Bill Clinton mới bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, nhưng một số nhà đầu tư nước này thông qua nước thứ ba đã thực hiện nhiều dự án FDI ở nước ta từ năm 1989.
Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, ba năm đầu 1988 - 1990, FDI chưa tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội nước ta. Nhưng từ năm 1991 đến năm 1997 đã diễn ra làn sóng FDI thứ nhất, với 2.230 dự án và vốn đăng ký 16,244 tỷ USD, vốn thực hiện 12,98 tỷ USD. Trong đó, chỉ riêng năm 1997, vốn thực hiện đã đạt 3,115 tỷ USD, gấp 9,5 lần năm 1991.
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến năm 2004, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, nên trong số 3.968 dự án mới, phần lớn có quy mô nhỏ, vốn đăng ký năm 1998 chỉ là 5,099 tỷ USD, năm 2000 là 2,838 tỷ USD, năm 2004 là 4,547 tỷ USD. Trong khi đó, vốn thực hiện trong giai đoạn này là 17,66 tỷ USD, chỉ tăng 36% so với giai đoạn 1991-1997.
Nhưng năm 2005 lại mở đầu làn sóng FDI thứ hai vào Việt Nam, với vốn đăng ký 6,839 tỷ USD và vốn thực hiện 3,3 tỷ USD. Từ năm 2006 tới nay, Việt Nam đã thu hút được một lượng lớn vốn FDI. Con số giải ngân cũng khá tích cực (xem bảng).
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính chung, từ năm 1988 đến năm 2011, tổng vốn đăng ký còn hiệu lực của 13.496 dự án FDI là 195,9 tỷ USD, vốn thực hiện là 88,2 tỷ USD, chiếm 43,2% vốn đăng ký.
Những đóng góp to lớn
Có thể nói, FDI đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội 1991 - 2000 là 30%, 2001 - 2005 là 16%, 2006 - 2011 là 28%. Các doanh nghiệp FDI đóng góp vào GDP thời kỳ 2001 - 2005 là 14,5%, tăng lên 20% năm 2010; nộp ngân sách nhà nước năm 2010 là 3,1 tỷ USD gần bằng cả 5 năm 2001 - 2005 (3,5 tỷ USD). FDI tạo ra khoảng 40% giá trị sản lượng công nghiệp, có tốc độ tăng khá cao, 2001- 2010 tăng 17,4%/năm trong khi toàn ngành công nghiệp tăng 16,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, 2001 - 2005 là 57,8 tỷ USD, 2006 - 2010 là 154,9 tỷ USD, bằng 2,67 lần, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (kể cả dầu thô).
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng hình thành nhiều ngành kinh tế, như khai thác, lọc hóa dầu, ô tô, xe máy, điện tử, xi măng, sắt thép, thực phẩm, thức ăn gia súc; cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện đại như Phú Mỹ Hưng, Nam Thăng Long, nhiều khách sạn 4- 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp, văn phòng cho thuê... Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bán buôn, bán lẻ đã du nhập phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư.
Một thành tựu khác, tính đến cuối năm 2011, khu vực FDI tạo ra hơn 2,3 triệu việc làm trực tiếp và hàng triệu việc làm gián tiếp, trong đó có hàng vạn kỹ sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu nhập ngày càng tăng, du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý tiên tiến.
Còn đó những nỗi lo
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, hoạt động FDI cũng đã bộc lộ những nhược điểm và khuyết điểm, như chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, một số máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu đã được nhập khẩu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng... Chuyện ô nhiễm ở sông Thị Vải, sông Cầu, sông Nhuệ là ví dụ điển hình.
Cùng với đó, cũng đã xảy ra “cuộc chiến giữa các tỉnh, thành phố chào mời nhà đầu tư quốc tế” bằng những ưu đãi quá mức thuế, tiền thuê đất, ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi chung của cộng đồng. Đã xảy ra tranh chấp lao động trong một số doanh nghiệp FDI. Gần đây, việc “chuyển giá” của một số doanh nghiệp FDI, gây ra tình trạng “lỗ giả lãi thật” nổi lên như vấn đề thời sự.
Nhiều bài báo đã đề cập các vấn đề đó, bài này chỉ lưu ý thêm hai thông tin:
Một là, theo báo cáo “Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2010” của Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID) và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) trên cơ sở khảo sát 1.155 doanh nghiệp của 47 quốc gia, đại diện cho 21% số doanh nghiệp FDI đang hoạt động thì “doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có quy mô tương đối nhỏ và có lợi nhuận thấp, chủ yếu làm thầu phụ cho các công ty đa quốc gia lớn hơn, do đó thường nằm trong khâu thấp nhất của giá trị sản phẩm”; khoảng 5% doanh nghiệp FDI hoạt động trong ngành công nghệ hiện đại, 5% vào dịch vụ khoa học - công nghệ, 3,5% vào dịch vụ tài chính, quản lý đòi hỏi kỹ năng cao.
Hai là, khi trả lời câu hỏi doanh nghiệp có ý định cân nhắc đầu tư ở nước khác hay chỉ tập trung đầu tư ở Việt Nam, thì 55% doanh nghiệp tham gia phỏng vấn cho biết, có cân nhắc đầu tư ở nước khác, trong đó 30% sang Trung Quốc, 10% sang Thái Lan, 8% sang Campuchia, 6% sang Indonesia, 4% sang Philippines và 4% sang Lào.
Mặc dù các tư liệu điều tra chọn mẫu chỉ có tính tham khảo, nhưng cũng báo động rằng, nước ta đã chậm chuyển đổi định hướng chính sách FDI từ đầu thế kỷ XXI. Môi trường đầu tư tuy đã được cải thiện, nhưng so với nhiều nước trong khu vực thì chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư có tiềm năng lớn. Đối với Việt Nam, cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư càng gay gắt hơn khi theo xếp hạng năm 2011, Trung Quốc vẫn dẫn đầu, Indonesia, Malaysia và Singapore lọt vào top 10 quốc gia có môi trường đầu tư tốt nhất thế giới; và khi trong số 5 nước mới nổi BRICS, thì 4 nước đã lọt vào danh sách 10 quốc gia có nền kinh tế hàng đầu thế giới, là Trung Quốc (thứ 2), Brazil (thứ 6), Nga (thứ 9) và Ấn Độ (thứ 10). Với dân số gần 3 tỷ người, 4 nước này là những thị trường hấp dẫn FDI nhất thế giới.
Tầm nhìn 2012 và sự chuyển hướng chính sách
Năm 2012, tình hình kinh tế quốc tế biến động theo chiều hướng không thuận lợi, giá cả thị trường thế giới có xu hướng giảm, nợ công ở nhiều nước vẫn là nguy cơ lớn. Bà Christine Lagarde, Giám đốc quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng: “Kinh tế thế giới đang ở trong trạng thái hiểm nghèo”.
Tuy vậy, cũng có dự báo về khả năng phục hồi kinh tế của các nước lớn, khu vực Đông Á vẫn dẫn đầu tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch thành trung tâm phát triển kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh đó, Báo cáo đầu tư quốc tế 2011 của Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc ( UNCTAD) dự báo FDI quốc tế năm 2012 là 1.700 tỷ USD, cao hơn năm 2011 (1.400-1.600 tỷ USD). Trong khi đó, con số này của năm 2013 là 1.900 tỷ USD, bằng năm cao nhất - 2007. Lần đầu tiên FDI vào các nước đang phát triển và đang chuyển đổi chiếm gần 50% FDI thế giới.
Việt Nam được chuyên gia kinh tế đánh giá là quốc gia dễ bị tổn thương nhất trong các nền kinh tế châu Á trước sự biến động của kinh tế thế giới, vì tình trạng lạm phát cao, doanh nghiệp chưa đủ mạnh, thâm hụt ngân sách lớn và hoạt động của hệ thống ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Năm 2012, nền kinh tế nước ta vừa phải khắc phục hậu quả của năm 2011, vừa bắt đầu tái cơ cấu kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới. Việt Nam đồng thời đứng trước thời cơ lớn khi quan hệ đối ngoại với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Ấn Độ được nâng cấp; ASEAN đang tiến tới Cộng đồng chung. Việt Nam không chỉ được nhiều nhà đầu tư nhận định là có ưu thế về ổn định chính trị, an ninh xã hội, mà trước tình hình thiên tai, như động đất và sóng thần ở Nhật Bản, lũ lụt kéo dài nhiều tháng ở Thái Lan, cũng đã được nhiều doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn là địa điểm đầu tư thích hợp để bảo đảm hoạt động sản xuất và kinh doanh lâu dài.
Cần khẳng định rằng, FDI tiếp tục là nguồn vốn quốc tế quan trọng nhất đối với Việt Nam, khi viện trợ phát triển (ODA) đang có xu hướng giảm, khi đầu tư gián tiếp khá bấp bênh. Chính phủ cần đưa ra thông điệp rõ ràng về định hướng FDI mới chuyển sang chính sách nâng cấp FDI, coi trọng hơn chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các hướng ưu tiên dự án công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ hiện đại, xây dựng khu kinh tế đặc biệt, thiết lập mối liên kết giữa các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) hàng đầu thế giới từ các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) với doanh nghiệp trong nước nhằm làm cho các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi nhờ vào hợp tác, phân công về công nghệ và thị trường với TNCs; khuyến khích TNCs hợp tác với các cơ sở đào tạo bậc đại học và dạy nghề trình độ cao, các tổ chức nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ và năng lực của các đơn vị đó.
Đổi mới đồng bộ để nâng chất dòng vốn FDI
Trên cơ sở định hướng FDI mới, cần đổi mới đồng bộ về thể chế, luật pháp, công tác quy hoạch, quản lý nhà nước như xúc tiến đầu tư, thẩm định, cấp phép, hướng dẫn, triển khai dự án, theo dõi, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất - kinh doanh, cải tiến phân cấp quản lý, thiết lập hệ thống thu thập và xử lý thông tin về FDI.
Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cần được sửa đổi cơ bản bởi vì đã bộc lộ nhiều nhược điểm đang cản trở hoạt động FDI. Một số chuyên gia kiến nghị, xây dựng Luật Doanh nghiệp mới với những điều khoản đáp ứng đòi hỏi đầu tư, kinh doanh và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, đủ chi tiết để điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp. Nghị định của Chính phủ chỉ để hướng dẫn thi hành luật, không chứa đựng nội dung luật như hiện nay, tốt nhất là không có thông tư của các bộ.
Đối với Luật Đầu tư năm 2005, nhiều ý kiến nhận xét rằng, nội dung của luật này trùng lặp với nhiều luật khác, do vậy nên hình thành Chương Đầu tư trong Luật Doanh nghiệp, bởi vì đầu tư là hoạt động chính của doanh nghiệp. Cũng có ý kiến cho rằng, trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005 không chú ý đặc điểm của FDI và doanh nghiệp FDI, nên đã không điều chỉnh được mọi hành vi liên quan đến FDI, làm giảm hiệu năng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế này. Do vậy, Luật Doanh nghiệp mới cần khắc phục nhược điểm đó.
Hơn thế, trước thực trạng nhiều doanh nghiệp FDI đang gặp khó khăn do tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát cao trong nước, thì Chính phủ và chính quyền các cấp cần tiếp cận, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua tình trạng kinh doanh kém hiệu quả. Đó chính là cách xúc tiến đầu tư tốt nhất, vì chính các doanh nghiệp này sẽ quảng bá rộng rãi chính sách và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước ra bên ngoài.
Các cuộc vận động đầu tư cần hướng chủ yếu vào 500 TNCs hàng đầu thế giới đối với dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thường xuyên cập nhật thông tin về điều kiện đảm bảo đầu tư theo yêu cầu của từng TNCs thay cho những cuộc hội thảo đông người kém hiệu quả. Sau khủng hoảng kinh tế thế giới, TNCs điều chỉnh thị trường đầu tư, có thể Việt Nam không còn được lựa chọn hoặc được đưa vào diện ưu tiên, do đó cần theo dõi để biết được chiến lược đầu tư mới của TNCs.
Các bộ lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật đủ chi tiết, gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chính quyền địa phương thực hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừa phát huy được tính năng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia. Trên cơ sở đó, chuyển trọng tâm quản lý nhà nước đối với FDI sang hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra doanh nghiệp khi đưa dự án đầu tư vào hoạt động theo đúng quy định luật pháp.
Hiện nay, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đang xây dựng Trung tâm Thông tin được nối mạng với các sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý KCN, KKT, doanh nghiệp FDI, hải quan, cơ quan thuế, ngân hàng để khắc phục nhược điểm thiếu thông tin, không cập nhật, nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp xử lý kịp thời đối với hoạt động FDI trong cả nước. Đây là điều đáng mừng.
Bài học thành công và thất bại trong kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, trong đó có thu hút FDI là tài sản quý giá để người Việt Nam khôn ngoan hơn, để tiếp nhận vốn đầu tư quốc tế có hiệu quả hơn và phát triển bền vững hơn.

GS.TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
 

Vốn FDI vào Việt Nam 2011: Ai bảo thấp không hay?

Giải ngân vốn FDI năm 2011 đạt 11 tỷ USD. Nhìn về mặt con số, thu hút FDI trong năm nay khá đuối.
“Phải nhìn phía sau của con số mới thấy được ý nghĩa”, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng lưu ý như vậy về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm 2011.

Lời ông Hoàng nói tại buổi họp báo sáng 30/12/2011 như để lý giải cho nhiều con số không đạt trong năm nay, đặc biệt là về vốn giải ngân và vốn đăng ký.

Nhìn về mặt con số, thu hút FDI trong năm nay khá đuối. So với mức dự kiến giải ngân năm nay là 11,5 tỷ USD, thực tế chỉ đạt 11 tỷ USD, bằng với năm ngoái.

Riêng về vốn đăng ký, tính đến 15/12/2011, vốn đăng ký mới và đăng ký tăng thêm tại Việt Nam đạt 14,7 tỷ USD, giảm tới 26% so với năm 2010. Trong đó, riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ USD, bằng giảm 35%.

So với chỉ tiêu thu hút 20 tỷ USD vốn FDI đặt ra cho năm nay, con số thực tế vào cuối năm đã không đạt. “Dù số vốn đăng ký giảm nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực”, Cục Đầu tư nước ngoài lưu ý.

Bóc tách “chi tiết con số”, như ông Hoàng nói, vốn FDI đăng ký trong năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, cao hơn hẳn tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực này năm 2010 (54,1%).

Ngược lại, FDI vào lĩnh vực bất động sản trong năm 2011 chỉ còn chiếm 5,8% tổng vốn đăng ký, trong khi năm 2010, lĩnh vực này chiếm 34,3%.

“Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương nhìn nhận.

“Điểm nôi bật là năm nay dự án tỷ đô giảm”, Cục trưởng Đỗ Nhất Hoàng cho biết thêm. Theo dữ liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, cả năm 2011, Việt Nam chỉ thu hút 2 dự án có vốn đăng ký trên 1 tỷ USD, trong khi năm 2008 là 11 tỷ USD…

“Nếu chúng tôi trừ lại các dự án trên 1 tỷ thì con số khoảng 11-12 tỷ USD trong mấy năm gần đây đều đều như vậy và vốn giải ngân cũng đều đều như vậy”, ông Hoàng cho biết.

Quan điểm của ông Phương và ông Hoàng cũng được hỗ trợ bởi các dữ liệu về sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp này. Tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI bao gồm cả dầu thô ước đạt 54,5 tỷ USD, chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 39% so với năm 2010.

Cục Đầu tư nước ngoài cũng lưu ý rằng kết quả như vậy đã cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước.

Giá trị kim ngạch nhập khẩu của khu vực này tương ứng đạt 47,8 tỷ USD, tăng 38% so với năm trước. Như vậy, khu vực doanh nghiệp FDI đã xuất siêu khoảng 6,7 tỷ USD trong năm nay (kể cả dầu thô), hay nhập siêu 600 triệu USD (không tính dầu thô).

Một con số khác liên quan là đóng góp vào thu nội địa năm nay của khu vực doanh nghiệp FDI đạt khoảng 3,5 tỷ USD, trong khi năm ngoái là 3 tỷ USD, ông Hoàng cho rằng, với tình hình năm nay khó khăn như vậy, việc đóng góp vào ngân sách vượt năm ngoái có nhiều ý nghĩa hơn nữa.

Lũy kế đến ngày 15/12/2011, Việt Nam có tổng cộng 13.667 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 198 tỷ USD, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 54%. Singapore là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 24 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật và Đài Loan. Tp.HCM vẫn là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI với 32,67 tỷ USD còn hiệu lực, tiếp theo là Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương.

Về quan điểm thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, quản lý FDI sẽ chú trọng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả vốn FDI; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về FDI.

Về định hướng, Cục cho biết sẽ thu hút FDI có chọn lọc, định hướng vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp “xanh”, thân thiện với môi trường, lĩnh vực tạo liên kết với các khu vực kinh tế khác và liên kết vùng; công nghiệp hỗ trợ, tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh; lĩnh vực công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực…

“Dự kiến năm tới 15-16 tỷ USD đăng ký, giải ngân 10-11 tỷ USD”, ông Đỗ Nhất Hoàng cho hay.
ANH QUÂN 
 
Nguồn: Vn Economy, ngày 30/12/2011, truy cập từ http://vneconomy.vn/2011123011119921P0C9920/von-fdi-vao-viet-nam-2011-ai-bao-thap-khong-hay.htm.

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 - 2010


Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 - 2010
Số dự án
Tổng vốn đăng ký
(Triệu đô la Mỹ) (*)
Tổng số vốn
thực hiện
(Triệu đô la Mỹ)
Tổng số
13812
214315,60
77945,500
1988
37
341,70
1989
67
525,50
1990
107
735,00
1991
152
1291,50
328,800
1992
196
2208,50
574,900
1993
274
3037,40
1017,500
1994
372
4188,40
2040,600
1995
415
6937,20
2556,000
1996
372
10164,10
2714,000
1997
349
5590,70
3115,000
1998
285
5099,90
2367,400
1999
327
2565,40
2334,900
2000
391
2838,90
2413,500
2001
555
3142,80
2450,500
2002
808
2998,80
2591,000
2003
791
3191,20
2650,000
2004
811
4547,60
2852,500
2005
970
6839,80
3308,800
2006
987
12004,00
4100,100
2007
1544
21347,80
8030,000
2008
1557
71726,00
11500,000
2009
1208
23107,30
10000,000
Sơ bộ 2010
1237
19886,10
11000,000
(*) Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.
 

Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam,ngày 18/12/2011 truy cập từ http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=392&idmid=3&ItemID=11373.

Mười năm thực hiện BTA Việt Nam - Hoa Kỳ


Việc thực hiện BTA đã gia tăng kim ngạch thương mại giữa hai nước
(baodautu.vn) Qua 10 năm thực hiện Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA: Bilateral Trade Agreement), quan hệ thương mại giữa hai nước đã đạt những kết quả tích cực, song đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam còn khá khiêm tốn.
BTA và phương án “BTA+”
Giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ được nối lại từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 7/1995. Tuy vậy, từ năm 1996 đến 2001, hoạt động thương mại hai chiều và đầu tư của Mỹ vào Việt Nam chưa có chuyển động tích cực.
Chưa đầy một năm sau ngày hai nước bình thường hoá quan hệ, tháng 5/1996, Mỹ chủ động gửi Việt Nam Dự thảo Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ. Sau hơn 4 năm đàm phán và thông qua các thủ tục pháp lý, ngày 13/7/2000, tại Washington, BTA đã được ký kết và có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2001.
BTA Việt - Mỹ có phạm vi điều chỉnh rộng hơn nhiều so với các hiệp định thương mại mà nước ta đã ký với một số nước, quy định chi tiết cam kết mở cửa thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm của công dân và pháp nhân hai nước Việt Nam và Mỹ.
Sau khi BTA có hiệu lực, Mỹ đã áp dụng Quy chế Quan hệ thương mại bình thường và Quy chế Tối huệ quốc (MFN: Most Favored Nations), giảm mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam từ 40% xuống 4%, mở cửa thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Tháng 12/2006, Tổng thống Mỹ G.W.Bush quyết định trao cho Việt Nam Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR: Permanent Normal Trade Relations ).
Trên cơ sở BTA, Việt Nam và Mỹ đã ký nhiều hiệp định và thoả thuận về ngân hàng, bảo hiểm, hàng không, Hiệp định khung về thương mại và đầu tư song phương (TIFA: Trade and Investment Framework Agreements), đang cùng một số nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC: Asia-Pacific Economic Cooperation) đàm phán về Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP: Trans-Pacific Partnership).
Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO: World Trade Organization), nước ta đồng thời phải tiến hành đàm phán đa phương và song phương với một số nước thành viên có yêu cầu. Mỹ là nước thành viên có tiếng nói quan trọng đối với sự tham gia của bất kỳ quốc gia nào vào tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này. Mặc dù đã có BTA, nhưng Mỹ vẫn yêu cầu nước ta đàm phán với Mỹ, bởi vì việc Việt Nam gia nhập WTO không những có quan hệ đến hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước, mà còn liên quan đến lợi ích của Mỹ về thương mại với Việt Nam và với các nước thành viên khác của WTO.
Xuất phát từ lợi ích quốc gia, khi đàm phán BTA, Mỹ đã hướng tới việc yêu cầu Việt Nam mở cửa thị trường đến mức cao nhất. Khi đàm phán về việc Việt Nam gia nhập WTO, Mỹ tiếp tục tìm mọi cách để đạt được những gì chưa đạt được trong BTA, hay gọi là phương án “BTA+”.
Nước ta đã phối hợp các hoạt động chính trị, ngoại giao để hoàn thành các cuộc đàm phán song phương với 27 quốc gia và nền kinh tế thành viên WTO, trong đó có Mỹ. Ngày 31/5/2006, tại TP.HCM, Việt Nam và Mỹ đã ký Thoả thuận song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO. Thỏa thuận này là sự bổ sung cho BTA, là điều kiện có tính quyết định để ngày 11/1/2007 nước ta là thành viên thứ 150 của WTO.
Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết đối với BTA cũng như đối với các hiệp định đa phương và song phương khác về việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, cải cách nền hành chính quốc gia, thủ tục hành chính để phù hợp với các thể chế và thông lệ quốc tế, mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ theo đúng lộ trình đã cam kết, chủ động đẩy nhanh tiến độ giảm thuế đối với một số mặt hàng nhập khẩu và dỡ bỏ hàng rào phi quan thuế, hài hoà hoá thủ tục hải quan.
Chuyển biến sau BTA
Việc thực hiện BTA đã gia tăng nhanh chóng kim ngạch thương mại hàng hóa giữa hai nước. Nếu như trước khi BTA có hiệu lực, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2001 là 1,51 tỷ USD, thì năm 2002 đã tăng đột biến lên 2,89 tỷ USD; năm 2005 là 6,75 tỷ USD; năm 2010 là 18,10 tỷ USD và năm 2011 ước đạt 20 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ năm 2002 là 2,45 tỷ USD, năm 2005 là 5,93 tỷ USD; năm 2010 là 14,24 tỷ USD, bằng 19,5 lần năm 2001. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao vào thị trường khó tính này là do nước ta đã có sự điều chỉnh theo hướng đa dạng hóa hàng xuất khẩu.
Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ liên tục tăng, năm 2010 là 10,47 tỷ USD, đã bù đắp khoản nhập siêu từ thị trường Trung Quốc, năm 2010 là 12,71 tỷ USD.
Vụ kiện bán phá giá cá da trơn, hàng may mặc của Việt Nam xảy ra năm 2002 và các vụ kiện thương mại khác, việc thực hiện Hiệp định Hàng dệt may Việt Nam - Mỹ (được ký ngày 25/4/2003) đặt ra các hạn mức định lượng đối với mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm vào khoảng 7% bắt đầu từ tháng 5/2003 đã làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 3 năm sau đó; năm 2004 là 16%; năm 2005 là 18,8% và năm 2006 là 32,8%. Từ tháng 1/2007, Mỹ xoá bỏ hạn ngạch đối với hàng may mặc của Việt Nam, đã tác động tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ, góp phần quan trọng đưa dệt may chiếm vị thế “quán quân” trong xuất khẩu hàng hóa của nước ta, năm 2011 là 13,5 tỷ USD, đạt tốc độ tăng trưởng trên 30% so với năm trước, mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu 96 tỷ USD.
Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Mỹ đã được cải thiện rõ rệt; hàng chế tác đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, trong khi tỷ trọng hàng sơ chế và tài nguyên ngày càng giảm.
Năm 2001, khi chưa có BTA, 78% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ là hàng sơ chế, chủ yếu là tôm và các sản phẩm dầu khí. Hai năm sau BTA, năm 2003 các mặt hàng chế tác đã chiếm 72% tổng kim ngạch xuất khẩu và hiện nay là 74-75%. Sự gia tăng trong hai năm 2002 và 2003 của hàng chế tác chủ yếu tập trung vào hàng may mặc, sau đó các hàng chế tác khác như điện tử, giày da, đồ gỗ đã tăng trưởng nhanh và chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng chế tác năm 2010.
Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ vào thị trường Việt Nam năm 2010 bằng 8,2 lần năm 2001. Các mặt hàng chủ yếu là phương tiện vận chuyển, máy móc, các sản phẩm chế tác khác, thực phẩm và sản phẩm sơ chế.
Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam không liên tục; hai năm đầu thực hiện BTA đã tăng từ 460 triệu USD năm 2001 lên 1,32 tỷ USD năm 2003, gấp gần ba lần, chủ yếu do việc thực hiện hợp đồng mua máy bay Boeing; từ năm 2004 đến 2006 chỉ giữ mức xấp xỉ 1,1 tỷ USD và năm 2007 đạt 1,68 tỷ USD. Ba năm gần đây, xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam tăng nhanh hơn, năm 2008 là 2,85 tỷ USD, năm 2009 là 2,71 tỷ USD và năm 2010 là 3,77 tỷ USD.
Trước khi có BTA, thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và khu vực ASEAN. Sau khi ký kết BTA, từ năm 2005, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã được phân phối khá đồng đều trên bốn thị trường chính là Mỹ, EU, ASEAN và Nhật Bản. Mỹ từ chỗ là thị trường nhỏ nhất đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam; năm 2010 chiếm 19,72% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam, cao hơn nhiều so với một số bạn hàng lớn khác như ASEAN là 10,35 tỷ USD, tương đương 14,3%; EU là 11,36 tỷ USD, chiếm 15,73%; Nhật Bản là 7,72 tỷ USD, chiếm 10,7%.
Đây là dấu hiệu tích cực đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, do thị trường được mở rộng và đa dạng hơn, nên hạn chế được rủi ro khi chỉ phụ thuộc vào một vài thị trường chính. Hơn nữa, trong môi trường thương mại được đa dạng hoá thì nước ta có thể thích nghi tốt hơn với những thay đổi về điều kiện thương mại của từng quốc gia trong trường hợp bị suy thoái kinh tế, hoặc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, các rào cản kỹ thuật, chế tài thương mại.
 
GS - TSKH Nguyễn Mại

10 sự kiện FDI năm 2010

Đã thành thông lệ, ĐTNN xin gửi đến bạn đọc xa gần kết quả bình chọn 10 sự kiện tiêu biểu trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài năm 2010. Kết quả được lấy ý kiến tham khảo của các chuyên gia trong lĩnh vực.
1. Điểm sáng giải ngân
Số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy tổng số vốn đăng ký cấp mới từ đầu năm đã đạt 17,23 tỉ USD, tăng 2,5% so với năm trước, cho dù trong kế hoạch năm nay, mục tiêu của Việt Nam là thu hút trên 19 tỉ USD. Cộng với gần 1,4 tỉ USD từ các dự án tăng vốn, tổng số vốn FDI đăng ký trong năm nay đạt gần 18,6 tỉ USD, bằng 82,2% so với năm 2009 cả về số dự án và vốn cam kết. Tuy nhiên, trong khi vốn đăng ký giảm, vốn thực hiện đã tăng, đạt 11 tỉ USD trong năm 2010, tăng 10% so với năm 2009. Singapore trở thành đối tác dẫn đầu về đầu tư vào Việt Nam, trong khi Quảng Nam là địa phương dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư, phần lớn nhờ vào việc cấp phép cho đại dự án Nam Hội An.
2. Khối doanh nghiệp FDI hoạt động tốt
Khối doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã có một năm hoạt động tốt bất chấp những khó khăn chung từ nền kinh tế toàn cầu. Về hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay phục hồi mạnh, nếu nhìn trên các chỉ tiêu về kim ngạch xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp FDI đã thu về gần 38,83 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu trong năm nay, tăng 27,8% so với năm 2009. Nếu không tính xuất khẩu dầu thô, doanh thu đạt 33,89 tỉ USD tăng tương ứng 40,1%. Nhập khẩu của khu vực này năm 2010 ước đạt 36,5 tỉ USD, tăng gần 40% so với năm ngoái. Như vậy, cả năm của các doanh nghiệp này xuất siêu vào khoảng 2,3 tỉ USD.
3. Nhiều doanh nghiệp FDI mở công ty nhập khẩu và phân phối
Theo số liệu của Bộ Công thương, trong năm 2010, đã có 525 dự án FDI đầu tư vào mua bán hàng hóa được trình hồ sơ xin cấp phép. Trong số này, có khoảng 235 dự án đáp ứng được các quy định pháp luật có liên quan, trong đó có 175 dự án xin bổ sung mục tiêu phân phối hàng hóa và 60 dự án được cấp phép lần đầu. Việc các doanh nghiệp FDI tăng cường nhập khẩu và phân phối thay vì chỉ sản xuất như trước là xu hướng đã được cảnh báo từ lâu, đặc biệt là khi Công ty Sony chính thức công bố việc ngừng sản xuất. Theo các chuyên gia, đây là một trong những mặt trái của quá trình hội nhập, khi hàng rào thuế suất và các ưu đãi không còn thì việc sản xuất của các doanh nghiệp FDI sẽ không có lợi bằng việc nhập khẩu sản phẩm tương tự từ các nước khác.
4. Đầu tư ra nước ngoài tiếp tục sôi động
Trong năm 1010, Việt Nam có 107 dự án đầu tư ra nước ngoài tại 25 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2,969 tỉ USD. Ngoài ra, còn có chín dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt trên 87,1 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài năm 2010 đã đạt khoảng 3 tỉ USD. Cũng trong năm 2010, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đã thực hiện đạt 900 triệu USD, trong đó lĩnh vực khai khoáng đạt trên 700 triệu USD. Bộ Kế hoạch và đầu tư đánh giá năm 2010 là năm mà hoạt động đầu tư ra nước ngoài diễn ra khá sôi động và đúng hướng vào những ngành, lĩnh vực và địa bàn ưu tiên. Bộ cũng dự báo rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài sẽ tiếp tục xu hướng sôi động. Dự kiến trong năm 2011, vốn đầu tư ra nước ngoài sẽ đạt khoảng 1,5-2 tỉ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 700-900 triệu USD.
5. Vốn gián tiếp đảo chiều vào cuối năm
Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, mặc dù thị trường chứng khoán vẫn đang trong giai đoạn khó khăn song vào thời điểm cuối năm, nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đã tăng mạnh trở lại. Thay vì mức sụt giảm khoảng 500 - 600 triệu USD trong năm 2009, từ đầu năm đến nay nguồn vốn FII đã tăng khoảng 712 triệu USD. Hiện Bộ Tài chính đang hoàn tất dự thảo Đề án quản lý vốn gián tiếp trình Chính phủ, theo đó Việt Nam đặt mục tiêu thu hút vốn nước ngoài theo hai hướng: (i) Cải thiện thị trường chứng khoán trong nước bằng việc xem xét tăng tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư và cam kết WTO và (ii) Ban hành khung pháp lý hỗ trợ các sản phẩm chứng khoán phái sinh như chứng chỉ lưu ký, phát hành chứng khoán tại nước ngoài…
6. Thay đổi quan điểm nhìn nhận về thu hút vốn FDI
Ngày càng có nhiều ý kiến ủng hộ việc xây dựng một chiến lược thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo hướng bền vững, đề cao chất lượng FDI và nhấn mạnh đến bảo vệ môi trường cũng như trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. Theo các chuyên gia, đã đến lúc cần phải có chiến lược thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững, vừa coi trọng lượng vốn FDI tăng lên hàng năm, vừa coi trọng chất lượng dự án FDI bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong từng giai đoạn. Trong các phát biểu gần đây, lãnh đạo Bộ Kế hoạch đầu tư và Cục Đầu tư nước ngoài cũng đã nhiều lần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hoạch định lại chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài.
7. Rút giấy phép dự án lớn
UBND tỉnh Quảng Nam đã chính thức ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đã cấp cho Công ty TNHH tập đoàn Bãi Biển Rồng với tổng vốn đầu tư hơn 4 tỉ USD. Lý do công ty trên đã không thực hiện ký quỹ 4 triệu USD để bảo đảm đầu tư theo cam kết, không lập phương án đền bù giải phóng mặt bằng, không xây dựng khu tái định cư, không triển khai các bước đầu tư đã đăng ký…Đây là dự án FDI lớn nhất bị rút giấy phép trong thời gian qua, mở ra tiền lệ cho việc rút giấy phép hàng loạt dự án không triển khai khác trên toàn quốc trong thời gian tới. Ngày càng có nhiều tiếng nói ủng hộ việc các tỉnh thành cần mạnh tay hơn trong việc xử lý các dự án chậm triển khai nhằm lành mạnh hóa môi trường đầu tư, đồng thời tạo điều kiện cho các chủ đầu tư khác có thể tiếp cận và triển khai dự án một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
8. Nóng chuyện casino
Các dự án có vốn FDI trong lĩnh vực casino đã thu hút sự chú ý đặc biệt của công luận trong năm 2010. Đầu tiên là việc dự án Silver Shore Hoàng Đạt ở Đà Nẵng phải “sửa sai” đối với một loạt sai phạm trong quá trình triển khai. Tiếp đó là việc dự án casino Hoàng Đồng ở Lạng Sơn được tái khởi động với mô hình một tổ hợp về nghỉ dưỡng, khách sạn và bất động sản. Và ngay vào thời điểm cuối năm, dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Nam Hội An, trong đó có một casino, đã được cấp phép với tổng vốn đầu tư lên tới 4 tỉ USD. Trong khi đó, giai đoạn I của dự án Hồ Tràm ở Bà Rịa Vũng Tàu cũng đang được triển khai ráo riết. Việt Nam vẫn coi casino là lĩnh vực đặc thù, cần hạn chế đầu tư. Tuy nhiên, các diễn biến trên thị trường cho thấy dường như Việt Nam vẫn đang là điểm đến hấp dẫn cho các dự án casino.
9. Khởi động cuộc chiến chống chuyển giá
“Cuộc chiến” chống hiện tượng chuyển giá đã được khởi động một cách khá mạnh mẽ trong năm 2010. Không còn là chuyện riêng của ngành thuế, chuyển giá đã trở thành chủ đề nóng ở Quốc hội. Thông tư 66 về chống chuyển giá đã được ban hành vào tháng 4/2010 được xem là một nỗ lực nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc chống chuyển giá. Khách sạn Equatorial đã chính thức bị khởi tố về hành vi chuyển giá trong năm 2010. Các diễn biến gần đây cho thấy trong thời gian tới các cơ quan chức năng sẽ mạnh tay hơn trong vấn đề chuyển giá. Việc thanh kiểm tra hàng loạt sẽ được tiến hành trong thời gian tới.
10. Nhiều tranh luận quanh chuyện cấp phép trồng rừng
Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình cho các công ty nước ngoài thuê đất trồng rừng, tính từ khi dự án trồng rừng đầu tiên được cấp phép vào năm 1995 đến nay, cả nước hiện có tám dự án trồng rừng có 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được cấp phép với tổng vốn đầu tư là 286.090.000 USD. Tuy nhiên, các dự án sau khi đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư đã triển khai nhưng chậm và có quy mô nhỏ hơn nhiều so với quy mô diện tích đất dự kiến. Trong khi đó, nhiều dự án đã được cấp phép tại những khu vực được coi là “nhạy cảm” về an ninh quốc phòng, gây lo lắng trong công luận. Tạm thời, Chính phủ đã chỉ đạo tạm ngừng cấp phép các dự án FDI về trồng rừng, tuy nhiên việc xử lý ra sao đối với các dự án đã cấp phép thì vẫn còn bỏ ngỏ.
ĐTNN
Nguồn: Tạp chí Đầu tư nước ngoài, ngày 21/02/2011 truy cập từ http://www.dautunuocngoai.vn/10-su-kien-FDI-nam-2010_tc_295_0_624.html.