Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngôn ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Nhà bác học Việt thông thạo 26 thứ tiếng lúc mới 25 tuổi

Thông thạo 26 thứ tiếng lúc 25 tuổi, Trương Vĩnh Ký khiến nhà văn Pháp Émile Littré (1801-1881) kinh ngạc: "Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học (bác học ngôn ngữ) bậc nhất thời nay".



Tượng Trương Vĩnh Ký ở một góc công viên Thống Nhất nhìn ra nhà thờ Đức Bà năm 1969 (hiện được đặt ở Bảo Tàng Mỹ Thuật TP.HCM)  - Ảnh tư liệu


Ngay từ thập kỷ 50 - 60 của thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký, một người Việt Nam đã thông thạo nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á cũng như các ngôn ngữ khác trên thế giới, như các thứ tiếng: Campuchia, Thái Lan, Lào, Malaysia, Myanmar, Chăm, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hi Lạp, Latin… để giao lưu và hội nhập dễ dàng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Thần đồng tự học nhiều hơn ở trường

Trương Vĩnh Ký từ lúc lọt lòng mẹ (6-12-1837) ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thạnh cho đến lúc qua đời (1-9-1898) ở Chợ Quán, Sài Gòn đã trải qua bao cơn sóng gió.

Cha ông là cụ Trương Chánh Thi, quê quán Bình Định, vào Nam lập nghiệp ở một khu vực đất Vĩnh Long (nay khu vực này thuộc Bến Tre).

Cha ông là một nhà Nho học, thích thi phú, được bổ nhiệm làm lãnh binh dưới triều Minh Mạng của nhà Nguyễn, mất lúc Trương Vĩnh Ký 3 tuổi.

Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Châu, một người mẹ hiền và lam lũ, sinh một gái và hai trai.

3 tuổi, ông thuộc làu Tam tự kinh.  4 tuổi, ông học viết. 5 tuổi (năm 1842) cắp sách đến trường học chữ Nho, chữ Nôm với thầy giáo Học.

Sau vài ba năm, ông thông suốt Minh Tâm Bửu Giám, đọc Tứ thư, Ngũ kinh, thuộc nhiều thơ Đường, thơ Tống...    

Ngoài ra, theo lời những người thân hậu bối, lúc nhỏ ông còn thuộc nhớ nhiều bài ca dao dài mà người lớn không biết. Cậu bé Ký đọc sách mà người cha mang từ miền Trung vào như Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Minh Đạo Gia Huấn, thơ Đường, thơ Tống...

Học tiếng La tinh với bạn Lào, Thái, Miến, Nhật, Trung..., học luôn tiếng bạn bè

Sau khi ông Trương Chánh Thi chết, một nhà truyền giáo thường được mọi người gọi là Cố Tám đã chỉ dạy cho cậu bé Trương Vĩnh Ký học chữ Latin, chữ Nôm và ít chữ sau này gọi chữ “Quốc ngữ“.

Ông nhận thấy cậu Ký còn nhỏ mà có đầu óc thông minh hơn người, chỉ biết thú đọc sách hơn đi chơi đùa, có chí cầu tiến, đã gửi cậu Ký cho một người Pháp tên Borelle (tên Việt Nam là Thừa Hòa) ở Cái Nhum (Vĩnh Long) nhận nuôi dạy Trương Vĩnh Ký về tiếng Latin và tiếng Pháp năm 1846.

Rồi ông Thừa Hòa phải đi xa nên đã nhờ một người Pháp tên là Bouilleaux (tên Việt Nam là Cố Long) lo hộ việc nuôi dưỡng và học hành của cậu Ký.

Năm 11 tuổi (1848), Trương Vĩnh Ký được Cố Long gởi đến học tại Pinhalu (Phnom Penh, Campuchia) được xây cất ở giữa một rừng thốt nốt hoang vu gần sông Mekong và cách Phnom Penh độ 6 dặm, dành cho cả vùng Đông Nam Á và Trung Hoa.

Lớp học có 25 học sinh từ 13-15 tuổi và Trương Vĩnh Ký là người nhỏ nhất. Trương Vĩnh Ký gặp gỡ, ăn ở chung với học sinh các nước Đông Nam Á như: Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Ciampois (Chăm)… Kết quả: cậu thiếu niên 13 tuổi Ký đã nói và viết thông thạo các ngôn ngữ kể trên của các bạn cùng trường.

Trương Vĩnh Ký còn học ngoại ngữ ở các sách và tự điển có trong thư viện của nhà trường. Các nhà ngôn ngữ học đương thời cho rằng Trương Vĩnh Ký đã tự tìm ra những quy luật ngữ pháp giống nhau, khác nhau của các tiếng nước ngoài để học nhanh và dễ dàng. 

Vào ngày mãn khóa học ở chủng viện Pinhalu, Trương Vĩnh Ký được chọn là một học sinh xuất sắc, đỗ đầu lớp và được tuyển lựa cùng hai người nữa để tiếp tục đi học ở đảo Penang, Malaysia.

Năm 14 tuổi (1851), Trương Vĩnh Ký tiếp tục được gởi vào trường ở Poulo Penang (một hòn đảo nhỏ trên vùng Nam Dương, thuộc Malaysia, nơi người Hoa và thổ dân Malaysia sống bằng kỹ nghệ khai thác mỏ kẽm. 

Khi đến nơi, Trương Vĩnh Ký rất ngạc nhiên khi thấy một vùng đảo ở vùng Đông Nam Á mà có nếp sinh hoạt cơ giới ồn ào, một sự phát triển lạ thường mà ông chưa từng thấy ở nước mình và Cao Miên.

Trong khoảng thời gian 7 năm theo học tại đây, Trương Vĩnh Ký học chuyên ngữ Latin và Hi Lạp. Ngoài ra, ông còn học nâng cao các thứ tiếng khác như Ấn Độ, Anh, Tây Ban Nha, Malaysia, Nhật, Hi Lạp, Thái Lan, Pháp, Ý…

Trong thời gian ở Penang, tài năng, đầu óc và trí tuệ thông minh của Trương Vĩnh Ký phát huy tột độ. Ông học một hiểu mười nhờ trí nhớ lâu dài, sách vở ở thư viện và giảng dạy của nhà trường. 

Ông đọc rất nhiều sách Hán, Pháp, Anh, Hi Lạp, Tây Ban Nha... Ông tiếp nhận được rất nhiều tư tưởng, kiến thức của người xưa cả Đông và Tây nhờ trí thông minh, khả năng ngôn ngữ và trí nhớ đặc biệt của mình.  

Trong thời gian theo học tại Penang, Trương Vĩnh Ký tự học tiếng Nhật, Ấn bằng cách cắt các báo cũ, rồi dùng phương pháp đối chiếu, diễn dịch mà tìm ra các mẹo luật văn phạm. 

Nhà nhiếp ảnh người Anh là J.Thomson viết quyển “Mười năm du lịch Trung Quốc và Đông Dương”, trong đó có đoạn: “Một hôm đến thăm Trương Vĩnh Ký, tôi thấy ông đang soạn sách Phân tích so sánh các ngôn ngữ chủ yếu trên thế giới, tác phẩm này ông bỏ ra nhiều năm làm việc cần cù. Chung quanh ông đầy những quyển sách quý và hiếm mà ông tìm kiếm được ở châu Âu, châu Á…”.

Với trí thông minh, sự sắc sảo thiên bẩm và chí phấn đấu cao, lại chịu khó tìm tòi, tự học trong một ngôi trường đa sắc tộc, nên Trương Vĩnh Ký đã thông thạo các ngoại ngữ phổ biến ở khu vực lúc bấy giờ.

Như vậy, việc học ngoại ngữ của Pétrus Ký được thực hiện một cách khoa học; có phân tích, đối chiếu giữa các thứ tiếng. Và trên hết là sự lao động miệt mài, công phu, chứ không đơn thuần chỉ dựa vào trí thông minh như nhiều người nghĩ.

Càng khâm phục hơn khi biết rằng việc học tập của ông vô cùng vất vả, nhiều ngoại ngữ ông học từ chính những người bạn học của mình, đúng như ông bà ta thường nói: “Học thầy không tày học bạn”.

Viết sách dạy những tiếng Pháp lẫn nhiều tiếng trong Asean ngày nay

Trương Vĩnh Ký thông thạo và nắm vững quy luật học các ngoại ngữ của các quốc gia trong khu vực và đã truyền kinh nghiệm của mình qua việc xuất bản sách. Vào cuối thập niên 1880, ông đã xuất bản sách dạy tiếng Thái Lan, Campuchia.

Đến năm 1892, ông soạn được ba bộ sách dạy tiếng Miến Điện (tức Myanmar ngày nay): Cours de langue birmane, Vocabulaire français-birman, Guide de la conversation birman[e]-français. Từ năm 1893, ông tiếp tục xuất bản sách dạy tiếng Lào, Malay, Tamoule (Tamil?), Ciampois (Chàm).

Émile Littré, nhà văn Pháp, năm 1862 đã viết: “Trên trái đất này rất khó tìm ra người thứ hai say mê ngôn ngữ như Trương Vĩnh Ký. Gặp người Anh, Trương Vĩnh Ký nói bằng tiếng Anh nhuần nhị như người Luân Đôn. Tiếp xúc với người Ý Đại Lợi, người Y Pha Nho, người Bồ Đào Nha... hay người Nhựt Bổn, Mã Lai, Xiêm... Trương Vĩnh Ký đều nói đúng theo âm luật của kinh đô nước đó... Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học vào bậc nhất của thời nay”.

Năm 1874, Trương Vĩnh Ký đã được thế giới bình chọn là “nhà bác học về ngôn ngữ”, nằm trong danh sách 18 nhà bác học thế giới của thế kỷ XIX, được ghi tên vào các danh nhân thế giới trong Tự điển Larousse.





Chân dung Trương Vĩnh Ký - Ảnh tư liệu






Tượng Trương Vĩnh Ký đặt ở Bến Tre hiện nay






Một trong những sách dạy ngoại ngữ của nhà bác học Trương Vĩnh Ký - Ảnh tư liệu





Lễ khánh thành tượng Trương Vĩnh Ký thời Pháp thuộc ở một góc Công viên Thống nhất





Tượng Petrus Trương Vĩnh Ký trước năm 1975 ở Công viên thống nhất hiện nay - Ảnh tư liệu




 * Học giả Pháp Jean Bouchot cuối thế kỷ 19 khẳng định Trương Vĩnh Ký là "một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả với nước Trung Hoa hiện đại". Ông viết:: "Người dân hoàn toàn Nam Kỳ ấy sánh kịp với các nhà thông thái xứng đáng nhất của Âu châu trong đủ ngành khoa học...".

Nhà văn Sơn Nam: "Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch...Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ...".

Giáo sư Thanh Lãng: "Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn...Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là "cách nói tiếng An Nam ròng" và viết "trơn tuột như lời nói". Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn.

Nhà nghiên cứu Lê Thanh: "Từ nhỏ được giáo dục theo phương pháp Âu Tây, khi trưởng thành theo giúp việc người Pháp, thế mà bằng hữu viết thư giục ông, ông không nghe, vẫn khăng khăng từ chối để suốt đời được giữ bộ quần áo Việt Nam và suốt đời là một người Việt Nam thuần túy.










Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ VTC NEWS ngày 02/01/2016 truy cập từ http://vtc.vn/nha-bac-hoc-viet-thong-thao-26-thu-tieng-luc-moi-25-tuoi.538.588871.htm.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Nước không chưn sao kêu nước đứng?

TT - Nam bộ là vùng sông nước, nhiều kênh rạch, nhiều loài cá tôm, phương tiện giao thông quan trọng là ghe xuồng nên rất nhiều câu ca dao nói tới sông nước, ghe xuồng và những sản vật sông nước.
 


Với tư duy hồn nhiên và thích chơi chữ, người dân Nam bộ phát hiện những “mâu thuẫn” thú vị về tên gọi của nhiều đồ vật, sản vật, con vật và đặc biệt là loài cá:
 
Nước không chưn sao kêu nước đứng
Cá không giò sao gọi cá leo?
Ghe không tay sao kêu ghe vạch
Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?
 
Trong câu ca dao trên, các từ cá leo, ghe vạch, bánh bò là tên gọi. Leo, vạch, bò không phải là động từ mà là danh từ nhằm gọi tên. Đứng đúng là động từ nhưng đã được dùng chuyển nghĩa tạo ra ẩn dụ.
 
Cách dùng ẩn dụ cho từ đứng
 
Con trâu đứng ở bờ tre. Trúc xinh trúc mọc bờ ao/Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh (ca dao). Ðó là những cách dùng thông thường. Nhưng “trời đứng gió”, “mặt trời đứng bóng”, “Nước không chưn cớ sao nước đứng?” là những cách dùng ẩn dụ của từ đứng.
 
Người Việt có kiểu dùng ẩn dụ “đứng” cho những trạng thái hoạt động nào giống tính chất mà con người hoặc động vật đứng. Ði là chuyển động còn đứng là ngừng lại, không chuyển động nữa. Khi đang đi mà đứng lại, ấy là chúng ta không chuyển động nữa, về cơ bản coi như bất động. Những hiện tượng nào đang thay đổi mà chuyển sang trạng thái trong nhận thức của người Việt coi là bất động hoặc gần như bất động sẽ được xem là đứng. Ðó là những trạng thái đứng. Ðây là cách dùng ẩn dụ của từ đứng.
 
Chiếc đồng hồ đang chạy, hết pin nên đồng hồ đứng lại. Trời không gió, là gió không thổi. Chúng ta gọi là trời đứng gió. Lúa đang phát triển chuyển sang giai đoạn ngừng đẻ nhánh, thân và lá đứng thẳng và đang chuẩn bị làm đòng, nhà nông gọi là lúa đứng cái. Mặt trời di chuyển, bóng các vật cũng chuyển động theo, tới lúc mặt trời ở ngay đỉnh đầu, bóng không di chuyển nữa. Lúc đó chúng ta nói mặt trời đã đứng bóng. Trong bài thơ Tiếng hát sông Hương, nhà thơ Tố Hữu đã dùng ẩn dụ “trăng đứng” theo cách này: “Trăng lên trăng đứng trăng tàn/Ðời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng”.
 
Khi còn trẻ, bề ngoài con người thay đổi rất nhanh. Tới một tuổi nào đó, một người không còn trẻ nhưng cũng chưa già, hình thức giai đoạn này hầu như không thay đổi nên được gọi là “một người đã đứng tuổi”. Một người khi số phận đã ổn định, không còn thay đổi nữa thì người đó được gọi là đã đứng số.
 
Tới đây, chúng ta giải thích được vì sao nói nước đứng. Con nước đang lên, tới đỉnh điểm thì dừng lại hoặc đang xuống tới hết mức thì dừng lại. Ðó là lúc nước đứng..
 
Câu chuyện về sự “bất động”
 
Quy tắc khái quát: Con người, loài vật khi đứng, ngủ, nằm im, nằm bẹp hay chết đều bất động. Có thể dùng những động từ này theo cách ẩn dụ cho những người, những vật, những đối tượng đang hoạt động mà chuyển sang trạng thái “bất động”, trong đó đáng chú ý là cách mở rộng nghĩa từ bất động thể xác sang bất động trong đời sống, hoạt động tinh thần. Ví dụ:
 
Những con tàu của Vinashin thành những đống sắt vụn nằm bẹp ở cảng.
 
Thành phố cần lao này suốt đêm không ngủ. Trời mùa đông, thị trấn heo hút miền núi này đi ngủ sớm. Thời buổi nhiễu nhương này, có trùm chăn ngủ kỹ cũng không yên. Ðoàn thanh niên tổng công ty này ngủ cả năm nay. Con quay quay tít, em bé reo lên “Con quay của tao đang ngủ kìa!”
 
Ðồng hồ chết là đồng hồ không chạy được nữa mà đứng lại. Chiếc xe đang đi bị chết máy là máy không nổ nữa, xe không chạy được nữa. Nếu mực nước trong hồ thủy điện xuống tới mức thấp nhất khiến không quay được tuôcbin nữa. Nhà máy thủy điện ngừng hoạt động coi như bị chết. Ấy vậy là nước trong hồ thủy điện đã xuống tới mực nước chết. Ngồi chết một chỗ là ngồi một chỗ bất động rất lâu. “Ông ấy rầu lắm, ngồi đâu là ngồi chết một chỗ”.
 
Khi nền kinh tế ngừng trệ, nhiều doanh nghiệp khó bề hoạt động. Nhiều doanh nghiệp lách luật để tồn tại, nếu không sẽ phá sản tức là “chết”. Người ta nêu câu hỏi: “Lách” luật hay là “chết”?
 
Sống mà không hoạt động gì nữa coi như đã chết. Một nhà văn Pháp đã nói: “Trên bia mộ của nhiều người đáng lẽ phải chữa lại là chết lúc ba mươi tuổi, chôn lúc sáu mươi tuổi”.

NGUYỄN ĐỨC DÂN

Nguồn: Tuổi Trẻ Online ngày 15/11/2013 truy cập từ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/580237/nuoc-khong-chun-sao-keu-nuoc-dung.html.
 

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Gato à!

TT - Mấy tháng trước, dân chơi Phây (Facebook) ầm ĩ chuyện một cô gái được cho là thế hệ 9X đã phơi rất... trây trên status một “tuyên ngôn cướp giật chồng người”.


Trích đoạn như sau: “Yêu đàn ông đã có vợ thì làm sao. Chúng mày có quyền gì nói tao. Yêu đàn ông có vợ có nhiều tiền, được chiều chuộng, được cung phụng tội gì không yêu... Bọn mày thấy tao sung sướng bọn mày Gato à”.
 
Nội dung và lời lẽ của tuyên bố trên lập tức được đáp trả bằng nội dung và lời lẽ tương thích, theo đúng phong cách của cộng đồng mạng. Xét thấy không cần phải tường thuật lại...
 
Chỉ có chuyện về một cái “chữ” không phải người nào cũng biết: Gato (đọc là ga-tô). Gato là gì? Nếu mà không biết thì tra Gu-gồ! Kết quả, không phải là bánh ngọt bánh nghiếc gì cả, mà là “ghen ăn tức ở”. Hóa ra đó là một kiểu diễn đạt, một kiểu chơi chữ dựa trên các con chữ cái.
 
Dân IT xài 3G
 
Có hôm đi nghe nói chuyện về kỹ năng giao tiếp, báo cáo viên mở màn bài nói bằng cách tự giới thiệu: “Tôi tên là (...), (...) tuổi, tuổi con (...), trước ốm yếu hom hem, sau đau thận cận thị, nay chuyển sang làm dân ai-ti (IT)...”. Cử tọa còn chưa kịp hiểu, anh liền giải thích: “IT chẳng phải là công nghệ thông tin gì đâu, mà là bây giờ tôi đang bị... ít tóc!”. Cả hội trường cười cái rần khi nhìn thấy người nói đang vuốt vuốt cái đầu hói!
 
Một hôm khác tại một nhà hàng, một nhà thơ nói với một nhà báo: “Này, đưa cho anh mượn cái eo-đi (LD)”. Cả bàn đang ăn sáng bỗng mở mắt to nhìn nhau ngạc nhiên, không hiểu LD là cái kim khí điện máy thời thượng nào, dĩ nhiên sau đó có ngay đáp án: LD là lửa đốt, tức cái hộp quẹt, cái bật lửa để châm thuốc lá!
 
Cho nên, từ nay bạn đừng ngạc nhiên khi nghe một đại gia chém gió bằng câu “Tớ lúc này thường xuyên xài ba-gờ (3G)”. 3G là chuyện nhỏ, thời buổi này ai mà không biết sử dụng, anh đạp xích lô, chị bán vé số có khi còn dùng nữa là! Nhưng xin đừng hỏi lại, hỏi lại là mắc bẫy ngay, 3G của lão ấy chính là: gạo quê, gà quê và... gái quê!
 
Dân copywriter ắt phải biết đến CD, chức danh đình đám nhất trong một hãng quảng cáo: creative director, tức giám đốc sáng tạo, là trùm sáng tạo đứng trên mọi sáng tạo! Mà sáng tạo ắt là... không bình thường, là điên điên khùng khùng, thậm chí phải siêu điên điên khùng khùng! Đó là lý do để “bọn xấu” sáng tạo nên cái nghĩa khác: crazy dog, dịch sang tiếng Việt, ngạc nhiên chưa cũng là CD, chó điên!
 
Đội hình SBC (săn bắt cướp) một thời nổi tiếng của Công an TP.HCM được một tiệm bán cơm “mượn danh” treo bảng “Cơm tấm SBC”. SBC trong tiệm này thiệt ra chỉ là sườn bì chả, không liên quan gì đến chuyện hình sự! Còn nhà văn Hồ Anh Thái thì cho ngay vào tựa đề một tác phẩm của anh, một truyện dài viết theo phong cách giễu nhại: “SBC là săn bắt chuột”.
 
Một số nhà báo kháo nhau về cái gọi là “Ủy ban SBC”, tức “săn bắt cớm”, tập hợp những anh chàng chuyên “nâng niu bàn chân sếp”, chuyên hầu hạ, cơm bưng nước rót thủ trưởng, quan trên...
 
Trung tâm Khuyết tật và phát triển do thạc sĩ Võ Thị Hoàng Yến thành lập với logo và tên tắt tiếng Anh là DRD (Disability Resource and Development) đã mở một hội quán, làm nơi cho người khuyết tật đến sinh hoạt, học tập, phát triển bản thân và hội nhập xã hội, và đặt thành một cái tên rất có ý nghĩa: “Đời Rất Đẹp”!
 
Cần phải nói ngay là môtip này từng được nhà văn Vũ Trọng Phụng sử dụng từ thế kỷ trước trong tác phẩm Số đỏ, với nhân vật Týp Phờ Nờ, viết là TYPN, có nghĩa là Tôi yêu phụ nữ!
 
N và M và...
 
Mỗi chữ cái dĩ nhiên là cũng có tên riêng. Khi gọi tên, cộng với phép đồng âm, “cõi người ta” đã tạo nên nhiều kiểu nói năng rất bất ngờ.
 
Trên đoạn quốc lộ qua tỉnh Tiền Giang, thấy treo bên vệ đường tấm bảng “Vá F”, hiểu ngay là vá ép vỏ ruột xe... Thương hiệu thời trang “N&M” là Anh và Em.
 
Công ty DKSH Việt Nam, được nhân viên bổn hãng gọi đùa là Dê Ca Ếch Hát. Do đó, có thể có ngày bạn đọc thấy trên thực đơn mấy chữ ngắn gọn: B thui, D nướng, cháo S, TT ba món... Nếu gặp một quán ăn chỉ ghi vẻn vẹn một con chữ Y thật to, đố bạn đoán biết nơi ấy bán gì? Y dài, tức I - cà - rếch, nói lái biến thành món ếch cà ri! Lại nói về chữ Y. Công ty sách điện tử của Nhà xuất bản Trẻ dùng tên giao dịch là Ybook, với chữ Y từ tiếng Anh là Youth, nhưng không nói quai - búc mà vẫn đọc I - búc để đồng âm với E book: sách điện tử!
Một anh giám đốc khi vui, thường hay kể chuyện đánh vần chữ “khổ”: trước là ca hát ô khô hỏi khổ, còn bây giờ là khờ ô khô hỏi khổ; và bình luận rằng xưa dù khổ vẫn còn ca còn hát, nhưng nay mãi vẫn khổ là bởi vì... khờ! Thiệt là một câu chuyện mà nhiều hàm ý.
 
Nhưng độc đáo nhất có lẽ là “bài thơ” lục bát chỉ gồm hai câu, được ghi nhận trong Thú chơi chữ của các thầy Lê Trung Hoa và Hồ Lê, xuất bản cách đây hơn 20 năm: N K N H U Ơ/ M K M H M R Q N... Bài thơ này mọi người chỉ nên đọc thầm, đừng gào lên thành tiếng có khi gặp phải hậu quả ngoài ý muốn!
 
DUYÊN TRƯỜNG

Nguồn: Tuổi Trẻ Online ngày 17/09/2013 truy cập từ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/569426/gato-a!.html.

Mời bác hưởng lạc!

TT - Thiên hạ giờ đây còn sáng tạo nên kiểu nói năng với từ hai tiếng theo phép “biến hình” bằng đồng âm: đồng âm thuần Việt với thuần Việt, thuần Việt và Hán-Việt, Hán-Việt và Hán-Việt, thậm chí với tên riêng và cả các yếu tố của từ láy...


Kính mời mọi người lắng nghe đoạn đối thoại sau đây:
- Xin mời bác hưởng lạc!
- Vâng, tôi cũng rất khoái lạc!
- Thế thì chúng ta cùng hành lạc!...
Xin nói ngay chuyện này không liên quan gì đến dục vọng đê hèn, chẳng qua là lối mời chào của các anh bợm nhậu: lạc ở đây chính là đậu phộng và hành lạc là xơi, là nhâm nhi đậu phộng trong lúc chờ đợi chiến hữu đến nhập cuộc...
 
Cô sinh viên sư phạm sống ở ký túc xá than thân: Tụi em ăn như sư mà ở như phạm! Ông giám đốc công ty “thanh minh”: Bác sĩ dặn dò phải thuốc men đầy đủ nên sáng tôi phải uống thuốc, chiều tôi phải dùng men (ấy là bia)!
 
Ai đi thăm lính nhà giàn DK1 đều biết có khi xuồng rất gần, gần lắm rồi nhưng vẫn không thể nào leo lên nhà giàn được vì sóng to gió lớn, lúc đó đành ngậm ngùi lên tàu trò chuyện, ca hát với lính bằng bộ đàm, lính gọi là nói qua loa, tức qua máy, tình quân dân mặn nồng lắm chứ không phải kiểu giao lưu đại khái, sơ sơ cho có đâu nhé! Có một biếm họa trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần “Năm anh em trên một chuyến xe tăng” theo cái nghĩa... tăng: phí đường bộ, giá xăng, giá điện, giá nước, giá gas...
 
MC một tiệc cưới trịnh trọng tuyên bố: Chuyện tình của chú rể Xuân Hoàng và cô dâu Kim Tuyến đã được ghi rõ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du! Cả phòng tiệc im bặt, ngạc nhiên và lắng nghe rồi bật cười khi MC tung ra bằng chứng: Nay Hoàng hôn đã lại mai hôn Hoàng! Hoàng trong trường hợp này là tên riêng! Còn đây là lời một lão nông có... trình độ tiếng Anh: Cứ dính tới đất sớm muộn gì cũng đai (chết). Mà hễ đã đai là phải về với đất!
Mới đây nhất, copywriter Huỳnh Vĩnh Sơn trong Ý tưởng này là của chúng mình (NXB Trẻ, 2013) - một cuốn sách viết cho những người sống, mê và làm nghề trong sáng tạo quảng cáo - đã có công “nghe lén” và chép lại cho đời một câu sau đây: Mai mốt đi chơi không có dắt cái thằng đó theo nha, chơi không có được, với gái thì hào phóng, với anh em thì phóng từng hào!
 
Nhưng có lẽ điểm 10 xin dành cho các bà má Nam bộ, các má thường nói vui: Mấy đứa bay lúc nào mở miệng cũng kêu triệt để. Bây giờ mấy má mới hiểu chỗ nào bay muốn triệt là bay triệt, chỗ nào bay muốn để là bay để nguyên hết! Các má quả nhiên là bậc cao thủ về chữ và nghĩa!
 
DUYÊN TRƯỜNG

Đặc sắc cách chơi chữ trong tiếng Việt
Đây là một bài rất thú vị.
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập. Mỗi tiếng là một từ. Số lượng các tiếng không nhiều. Do vậy: a) rất nhiều từ đồng âm. b) cần tạo ra những từ ghép, phổ biến là từ ghép đôi, để diễn đạt những khái niệm mới. Có nhiều kiểu ghép khác nhau, ghép đẳng lập (vai trò hai tiếng như nhau) và ghép chính phụ (vai trò hai tiếng khác nhau).
Từ trong từ điển có hình thức thế nào thì từ ở trong câu cũng giữ nguyên hình thức ấy. Cho nên phương tiện ngữ pháp tiếng Việt quan trọng nhất là trật tự từ. Nhiều trường hợp đảo trật tự là nghĩa khác hẳn. Chính vì vậy mà cách chơi chữ trong tiếng Việt cũng hết sức đặc sắc.
Vận dụng hiện tượng đồng âm để dân nhậu tạo ra câu mơ hồ nói vui “hưởng lạc, khoái lạc, hành lạc”.
Nhờ khả năng tách từ ghép đôi thành hai từ mà cô sinh viên sư phạm than tụi em “ăn như sư ở như phạm”. Cái ý này hồi Sài Gòn mới giải phóng người ta đã châm biếm cán bộ bằng câu “ăn như tu, ở như tù, nói như lãnh tụ” (xin lỗi!). Dùng hiện tượng đồng âm và cách tách từ mà hành chính thành hành dân là chính. Hoặc, thương hại là tuy thương mà có hại.
Một đặc điểm tiếng Việt là có khả năng chêm xen giữa các từ cặp đôi, vậy nên có những cách chơi chữ chưa hưu thì “đi xe hơi uống bia ôm“, về hưu thì đời xuống cấp “đi xe ôm, uống bia hơi“.
Gs.TSKH NGUYỄN ĐỨC DÂN

Nguồn: Tuổi Trẻ Online ngày 24/10/2013 truy cập từ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/575982/moi-bac-huong-lac!.html.

Ảo thuật với từ hai tiếng

TT - Trong Tiếng Việt lý thú - cái hay, cái đẹp của từ ngữ tiếng Việt (tập 1, NXB Giáo Dục, 2001), tác giả - nhà giáo, nhà nghiên cứu Trịnh Mạnh có dẫn ra mấy con số: từ hai tiếng chiếm 75% tổng số từ, từ đơn tiết chiếm 24%, còn những từ có từ ba âm trở lên chỉ khoảng 1%...

Tiếng Việt có một thứ đặc sản đồng bào ta vẫn ưa dùng nhưng không phải ai cũng nhận ra đầy đủ sức mạnh của nó: khả năng ảo thuật với từ hai tiếng!

 

Có thể ai đó tranh cãi về số liệu cụ thể nhưng có một điều chắc chắn: từ hai tiếng trong tiếng ta (gồm từ ghép và từ láy) chiếm đại đa số, trở thành một “thói quen tiêu dùng hằng ngày” của dân ta. Bằng chứng là dù Bác Hồ viết tác phẩm mang tên Sửa đổi lối làm việc, nhưng đến nay vẫn có rất nhiều người tự động biên tập thành Sửa đổi lề lối làm việc. Còn những nhà giữ trẻ, hợp tác xã, sư đoàn trưởng, vô tuyến truyền hình... sau thời gian lưu hành thường bị rút gọn thành nhà trẻ, hợp tác, sư trưởng, truyền hình...
 
Xa nhưng không rời
 
Với một kho từ hai tiếng khổng lồ, từ AB, ông bà ta chỉ cần đảo vị thành BA là có thể tạo ra một kiểu nói thú vị, ấn tượng ngay: Càng đo đắn lắm càng già mất duyên (ca dao), Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền văn hóa lâu đời (Thép Mới), Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc/Nợ tang bồng vay trả, trả vay (Nguyễn Công Trứ), Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng/Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng (Nguyễn Du)...
 
Câu đối ở đền thờ vua Hùng chính là theo phương thức đảo chữ này: Có tổ có tông, có tông có tổ, tổ tổ tông tông, tông tổ cũ/Còn non còn nước, còn nước còn non, non non nước nước, nước non nhà (Tản Đà)...
 
Hơn thế nữa, với một X/một Y/một XY và một AB, chúng ta sẽ tạo ra những “cặp đôi” mới như kiểu XAXB: Sợi nhớ sợi thương (Phan Huỳnh Điểu), Dù ai nói ngả nói nghiêng/Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân (ca dao), Lúc nghỉ ngơi ngồi dưới bóng cây/Rít mồi thuốc say ngây say ngất (Tú Mỡ)...
 
Và kiểu XAYB, XBYA: Buôn tảo bán tần (thành ngữ), Thân anh đi lẻ về loi (ca dao), Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ (Tản Đà), Những là đắp nhớ đổi sầu/Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm (Nguyễn Du)...
 
Từ hai lát sandwich đến ổ bánh da lợn
 
Không rõ ai là người đầu tiên bày ra cách nói đến nay đã thành... kinh điển: “thủ tục hành chính - hành dân là chính”. Xem ra, người đời nay đã học tập cha ông và thêm một bước cách tân: tách rời hai tiếng ra xa như hai lát bánh mì sandwich rồi cho vào giữa, vào hai bên nào rau, nào thịt, thành một công thức “khoái khẩu”.
 
Chuyên gia phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh khi bàn về thói quen bố thí, xét về mặt cá nhân là việc tốt nhưng nhìn về phía xã hội có thể tạo ta một lực lượng ăn bám, trục lợi vào trẻ con, người già, người khuyết tật đã nói một câu rất đáng suy ngẫm: lối thương hại ấy, tuy thương mà có hại! Cây bút Nguyễn Ngọc Hùng khi bàn về xu hướng đời mới trong cưới hỏi ở Hà Nội hiện nay đã có bài viết mang tựa đề “Tân, nhưng mà... kỳ!” (Tuổi Trẻ Cuối Tuần số ra ngày 8-4-2012). Giám đốc Công ty Lửa Việt Nguyễn Văn Mỹ có bài giới thiệu trên tuần san Thanh Niên “Một vùng đất Phú trời Yên” (8-8-2012)...
 
Một giảng viên về nghệ thuật nói thuyết phục đã nói: Ông bà ta có một chữ rất hay, một từ mà nói được chính xác và khái quát phương pháp thuyết phục bằng lời ăn tiếng nói, đó là “lý sự” - nói lý phải kèm theo sự, tức lập luận phải đi cùng dẫn chứng! Có em học sinh cấp III trong một cuộc tọa đàm về dạy và học đã nêu lên nỗi lòng với các đại biểu và thầy cô: “Chúng cháu nghe rất nhiều về việc giảm tải, nhưng giảm tải chính là giảm của người lớn để tải hết xuống cho học trò!”. Còn đây là chuyện nghe được ở quán cà phê:
- Sao! Chuyện giấy tờ sổ hồng sổ đỏ cậu lo xong chưa? - Khổ lắm, vẫn chưa đâu ra đâu, nhà mình giấy thì đủ mà tờ thì vẫn còn thiếu, bạn hiền ơi!...
 
Nhưng có khi hai miếng sandwich vẫn chưa thấy đã, dân ta tiếp tục tách rời, lật qua, đảo lại, ghép thêm, pha chút sắc màu đồng âm, tạo thành ổ bánh da lợn nhiều lớp vừa ngon vừa lạ miệng:
Mẹ dặn con: Con ơi nhớ lấy câu này/Có vàng là vững, muốn vững cần vàng! Vợ dặn chồng: Làm ăn, nếu muốn hùn thì phải hạp, nếu không hạp thì đừng hùn! Tâm sự của người vừa về hưu: Lúc có chức có quyền thì đi xe hơi uống bia ôm, lúc nghỉ việc về vườn thì chỉ còn một nước... đi xe ôm uống bia hơi!
 
Nhưng độc đáo nhất có lẽ là lời của ông Ya Duck, người dân tộc K’Ho - phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng, được dẫn ra trong bài “Từ Phó thủ tướng Fulro đến phó chủ tịch Mặt trận” của nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải (đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Xuân Nhâm Thìn 2012): “Mặt trận, nghĩa là trận nào cũng có mặt, mà mặt nào cũng chịu trận!”.
 
DUYÊN TRƯỜNG

Bộ sưu tập vài kiểu nói vui lạ với từ 2 tiếng
Lời người cha: Cha nói vui nhưng không có nói chơi
Lời cô giáo: Dạy nhưng cũng phải biết dỗ
Lời nhà báo: Viết thì phải lách
Lời bác sĩ: Đừng cố quá mà thành quá cố
Lời đạo diễn: Thà thô mà mộc còn hơn tinh nhưng lại xảo
Lời thực khách: Nhà hàng này có tiếng mà... không có tăm
Lời người ăn kiêng: Ăn uống đạm bạc, ít đạm nên đỡ tốn bạc
Lời người buôn bán: Khổ cho thân tôi! Khách đến thì ít mà khứa đến thì nhiều
Lời tên xã hội đen: Khám trước rồi phá sau
Lời một phụ nữ đang mắng chồng: “Ông chả bao giờ cương quyết, lúc cương thì không quyết, đến lúc quyết thì... hết cương!


Nguồn: Tuổi Trẻ Online ngày 22/10/2013 truy cập từ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/575766/ao-thuat-voi-tu-hai-tieng.html.

Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?

TT - Trong tiếng Việt, có những từ ngữ hoặc địa danh sử dụng hằng ngày mà nếu có người hỏi tại sao nói thế và nguồn gốc của những từ ngữ ấy từ đâu thì chúng ta đành bó tay; chẳng hạn câu hỏi trên trong một bài ca dao (Nước không chưn sao kêu nước đứng? Cá không giò sao gọi cá leo? Ghe không tay sao kêu ghe vạch? Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?...).



1 Chúng ta chỉ có thể giải đáp câu trên dựa vào cuốn Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản cách đây trên 110 năm. Trong sách này, tác giả ghi bánh vú bò và giải thích vì bánh đổ vào chén, trông giống như cái vú con bò. Về sau rút gọn thành bánh bò. Ðây là hiện tượng tỉnh lược trong ngôn ngữ. Các từ sau đây cũng bị hiện tượng tỉnh lược chi phối: dầu con rái => dầu rái, nấm tai mèo => nấm mèo...

Ở miền Bắc có một loài cá giống và to bằng cá chép, nhưng có đặc điểm là tươi rất lâu tên là cá rói. Dù bị bắt ra khỏi nước từ sáng đến trưa cá vẫn còn tươi nên có thành ngữ tươi như cá rói, về sau tỉnh lược thành tươi rói. Một thành ngữ tương tự: ngay như cây chò (một loại cây rừng thân rất thẳng) => ngay chò (ở Nam bộ biến âm thành ngay chừ). Cầu Kiệu ở TP.HCM được Trương Vĩnh Ký ghi là cầu Xóm Kiệu (tức là xóm chuyên trồng kiệu), như vậy chữ Xóm ban đầu đã bị giản lược.
2 Một từ khá phổ biến ở Nam bộ dùng để chỉ người phụ giúp tài xế lái xe đò trong công việc bán vé, thu tiền, khiêng xách hành lý là lơ xe. Từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur, nghĩa là “người kiểm soát (vé)”. Như vậy, từ một âm tiết vô nghĩa - leur, người Việt biến thành một từ có nghĩa.
 
Ở miền Bắc, người ta thường dùng từ ngữ săm lốp để chỉ vỏ ruột xe đạp và xe gắn máy. Lốp thì người miền Nam cũng dùng và những người biết tiếng Pháp đều biết nó bắt nguồn từ enveloppe, nghĩa là “vỏ xe”. Còn săm ban đầu người miền Nam và nhất là những người không học tiếng Pháp không hiểu nghĩa. Từ săm bắt nguồn từ ngữ chambre à air “ruột xe”.

3 Tại sao có từ bồ bịch, nghĩa là nhân tình? Nguyên trước đây có một từ ghép bồ bịch, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; còn bịch cũng là nông cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy vì lấy nền nhà làm đáy. Do đó, ca dao VN có câu:
 
Bởi anh chăm việc canh nông
Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.
 
Trong tiếng Việt trước đây có từ bầu (bạn), có biến âm là bồ tương tự như đậu xanh - đỗ xanh, thi đậu - thi đỗ... Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên từ bồ bịch thứ hai (người yêu) ra đời. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng mượn âm.
 
Một số trường hợp tương tự. Trái sầu riêng có nguồn gốc từ Malaysia là đu-riêng. Ban đầu (giữa thế kỷ 19) người Việt dùng cả hai từ, sau loại hẳn từ đu-riêng.
 
Huyện Kế Sách ở tỉnh Sóc Trăng gốc Khmer là Ksach, nghĩa là “cát”. Vì gần âm với từ kế sách (phương kế, sách lược) nên Kế Sách đã thay thế Ksach.
 
Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine của Pháp đã được các trí thức VN khoác cho chiếc áo của Lữ Bố: Lã Phụng Tiên (họ Lữ cũng đọc Lã, Phụng Tiên là tự của Lữ Bố).
 
Ðèo ở phía bắc thành phố Nha Trang do kỹ sư người Pháp Rury điều khiển sửa sang nên Pháp dùng tên người này đặt cho đèo. Người Việt đã gọi là đèo Rù Rì.
 
4 Người Nam bộ thường bảo trẻ con đi chỗ khác chơi, không được láng cháng trước mặt. Nhưng trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của đã nói ở trên ghi loán choán. Như vậy từ gốc là choán, yếu tố láy là loán và nghĩa gốc của láng cháng là “choán chỗ”. Ðây là hiện tượng biến âm.
 
Ở các đô thị Nam bộ có loại xe chuyên chở đồ đạc phục vụ xã hội mang tên ba gác. Nhiều người biết tiếng Pháp cũng ngỡ ngàng khi biết nguồn gốc Pháp của từ này là bagage, nghĩa là “hành lý”.

5 Bỏng trong từ bé bỏng có nghĩa là “nhỏ”. Trong tập thơ cổ Thiên Nam ngữ lục có câu thơ sử dụng từ bỏng với nghĩa này:

Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan
Hai từ bé và bỏng đồng nghĩa hay gần nghĩa kết hợp với nhau. Ðó là hiện tượng láy nghĩa.
Nhiều từ trong tiếng Việt bị chi phối bởi hiện tượng này: Việt + Việt: tìm kiếm, chờ đợi, yêu thương; Việt + Pháp: canh gác (gác xanh lơ) (lơ )
Biết được nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều từ tiếng Việt, ngoài cảm giác thú vị, ta còn yêu thích tiếng mẹ đẻ hơn.
 
LÊ TRUNG HOA

Tiếng Việt nhiều khi có đối nghịch ngay trong một từ ghép. Buồn cười. Ðã buồn sao còn cười. Tức cười. Ðã tức sao còn cười. Ấy thế, mấy chữ ấy đều chỉ một tâm trạng là muốn cười trước một điều gì đó, trước một ai đó.
Ngã một cái, bẩn sạch cả rồi. Bẩn sạch. Ðã bẩn thì sao còn sạch được. Sạch ở đây chắc ai cũng hiểu không phải là sạch sẽ. Sạch nhẵn, không còn một chút gì sót lại. Sạch nhẵn như chùi. Ngôn ngữ phương Nam vẫn dùng là sạch bách.
Phương ngữ Bắc bộ có từ ráo, tức là khô ráo. Nhưng ráo cũng có nghĩa là toàn bộ, là hết lượt. Hình như chữ ráo trọi của phương Nam cũng là như vậy. Hổng biết chi ráo trọi. Chẳng biết cái gì hết. Ðưa đẩy một tí để dẫn đến câu này: gặp mưa giữa đường, ướt ráo cả rồi. Ướt ráo. Ðã ướt lại còn ráo.
Cũng như vậy là câu: đò chìm, may không ai chết, sống tiệt. Ðã sống lại còn tiệt. Nhưng mà đấy là một cách nói ở nông thôn Bắc bộ, có nghĩa là tất cả đều còn sống. Yên tâm.
Nói sang chuyện thực phẩm, chữ và nghĩa nhiều khi cũng không khớp với nhau: gọi là bánh giò nhưng trong ấy không có giò, chỉ là nhân thịt lợn, mộc nhĩ, nấm hương. Bún chả thì đâu có phải là miếng chả miếng giò mà là thịt lợn nướng. Món chả cá cũng vậy, đâu phải là cá xay nhuyễn làm thành miếng chả rán, đó chỉ là cá hấp đem rán sơ trên chảo mỡ sùng sục, ăn với mắm tôm.
Lại có những khái niệm dường như bị đảo ngược: người đồng bằng Bắc bộ gọi xôi lúa, thành phần chủ yếu là ngô (bắp), rất ít nếp ít lúa trong ấy. Cùng lúc, khi người ta gọi xôi ngô thì trong ấy nếp nhiều hơn là ngô. Cứ nhớ là hai chữ này đảo ngược cho nhau, không bao giờ bị lẫn. Yên tâm.
HỒ ANH THÁI


Nguồn: Tuổi Trẻ Online ngày 19/10/2013 truy cập từ http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/575378/banh-khong-cang-sao-goi-banh-bo.html.