Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

“Tiền là tiên là Phật...?”

(TBKTSG XUAN) - Xin thưa: còn hơn thế nữa! Tiền là ông Trời, là “Thượng Đế của thời đại chúng ta” (G. Simmel); thời đại ấy “đã thay thế sự toàn năng của Thượng Đế bằng sự toàn năng của đồng tiền” (N. Luhmann).
Simmel còn minh họa dễ hiểu: ngày trước, tòa nhà cao nhất ở các đô thị là giáo đường, nay là... các ngân hàng! “Chúng khẩu đồng từ”, nếu ta nhớ rằng Georg Simmel thuộc thế hệ đầu tiên của những nhà xã hội học Đức, còn Niklas Luhmann sống đồng thời với chúng ta. Nhiều nhà thần học vốn không chịu “thờ hai chúa” (Thượng Đế và... Thần Tài/Mammon) cũng phải cay đắng thừa nhận một “chủ nghĩa phiếm thần thờ đồng tiền” và đồng tiền trở thành “thực tại tối cao, quy định tất cả”, một danh xưng chỉ được dành cho Thượng Đế trước đây! Một sự “soán ngôi” vô tiền khoán hậu? Một cách nói thậm xưng? Dù hiểu cách nào, đây là một thực tế cần nhận diện, cần suy tưởng từ nhiều giác độ: kinh tế học, xã hội học, nhân học và triết học.
Ngày xuân, thử bàn phiếm đôi điều về đồng tiền như một thực tại thường trực trong đời sống, một sản phẩm lâu đời nhưng tiêu biểu cho thời hiện đại. Nó mang lại cho cuộc đời nhịp điệu và vẻ hấp dẫn đặc thù, đồng thời cả cách nhìn nhận đặc thù về thế giới và chỗ đứng của ta trong đó. Tiền tạo ra vô số vấn đề khi ta thiếu nó, và càng nhiều vấn đề hơn khi ta có nó. Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng ta có thể làm chủ được nó. Quyền lực của ta đối với đồng tiền có chăng chỉ là cố hiểu quyền lực của nó trên ta. “Chủ đề về tiền đã lôi cuốn bao nhà thông thái từ thời Aristoteles cổ đại cho đến ngày nay bởi nó đầy bí mật và nghịch lý” như The New Encyclopedia Britannica, 1985, nhìn nhận.
BẢN CHẤT CỦA ĐỒNG TIỀN?
Tìm hiểu bản chất của đồng tiền cực khó, bất chấp nỗ lực từ bao thế kỷ của các nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà văn và cả... nhà thơ lẫn triết gia! Nó là thiện hay ác? Nó được ca tụng và mơ ước lẫn bị khinh bỉ và xa lánh. Nó sáng tạo và phá hủy, hợp nhất và phân ly, biến bạn thành thù và ngược lại. Nó ảnh hưởng quyết định đến sinh mệnh của từng cá nhân và quốc gia, mang lại sự tự do hay lệ thuộc. Nó gây nên bao cung bậc cảm xúc khác nhau. Nói ngắn, con người tạo ra tiền và tiền tạo ra con người, cả về cách sống lẫn cách suy nghĩ. Có hiện tượng xã hội nào kỳ lạ hơn thế không?
VAI TRÒ SONG ĐÔI
Là đối tượng của nhận thức, tiền thuộc lĩnh vực kinh tế học với mục tiêu và phương pháp riêng của nó. Dưới cái nhìn này, tiền là phương tiện trao đổi. Nhiệm vụ của kinh tế học là xem nền kinh tế cần bao nhiêu tiền và những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc cung và cầu tiền. Phương pháp của nó chủ yếu là định lượng.
Nhưng, ta dễ thấy ngay rằng phương pháp định lượng hay “toán học hóa” là không đủ để khám phá bí mật của đồng tiền xét như một hiện tượng xã hội. Cần bổ sung vào đó những phân tích định tính. Từ đó, ta có quyền nói về một môn xã hội học, hay, hơn thế, một triết học về đồng tiền. Trong giác độ ấy, tiền không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích của trao đổi. Là phương tiện, tiền góp phần phát triển thương mại, mở rộng sự vận động của hàng hóa, dịch vụ. Nhưng, là mục đích, tiền ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của chính con người, đến mục tiêu và thái độ hành động. Tiền thay đổi cả định hướng về giá trị, ý tưởng lẫn những tiêu chuẩn đạo đức.
Aristoteles sớm nhận ra vai trò song đôi này của đồng tiền, xem cái trước là “tự nhiên”, cái sau là “phản tự nhiên” và vô độ. K.Marx tìm hiểu bản chất của đồng tiền, cho thấy tiền - hiểu như mục đích của trao đổi - đã chuyển hóa thành tư bản như thế nào. Cũng thế, G. Simmel, mà ta sẽ trở lại, nhấn mạnh tác động kinh khủng của đồng tiền lên hành động của con người khi trở thành mục đích của trao đổi. “Tính phân cực nội tại trong bản chất của đồng tiền nằm ở chỗ nó là phương tiện tuyệt đối, nhưng qua đó, về tâm lý, trở thành mục đích tuyệt đối của vô số người, và lạ thay, thành biểu trưng khiến những định hướng quan trọng khác trong cuộc đời đều bị đông cứng lại”(1). “Sứ mệnh lịch sử” của tiền không chỉ tạo ra nền kinh tế thị trường, mà còn tạo ra “con người kinh tế” (có thật có không?) với tâm thế được Max Weber gọi là “tinh thần của chủ nghĩa tư bản” (dù tiền không phải là sản phẩm đặc thù của chủ nghĩa tư bản). Nói cách khác, tiền không chỉ thay đổi “thế giới sự vật” và “thế giới con người” mà cả thế giới nội tâm của con người: lợi ích, lý tưởng, cảm hứng, khát vọng, thước đo luân lý, đạo đức. Tiền thay đổi hệ giá trị bằng cách ban cho mình giá trị phổ biến.
Nhưng, “giá trị” lại là khái niệm bí hiểm nhất trong kinh tế học, có lẽ do nó là khái niệm mang tính “triết học” nhiều nhất! Georg Simmel, trong “Triết học về đồng tiền” (1900), là người đầu tiên tiếp cận vấn đề bằng con mắt triết học sâu sắc. Ông triết gia Kant vẫn còn cương quyết phân biệt giữa giá cả và giá trị: “Mọi vật đều có một giá cả. Nhưng, giá trị là vô giá,
Với tư cách là “giá trị phổ biến”, tiền hành động như là động lực cho mọi loại hoạt động, kể cả hoạt động phi nhân tính. Những gì không nên mua bán trở thành sản phẩm có thể mua bán. Trong chừng mực đó, tiền mang lại sự bất an và rối loạn xã hội, thách thức nền tảng giao tiếp và quan hệ đạo lý.
bởi nó là phẩm giá!”. Nhưng, từ khi trở thành vật ngang giá, tiền là giá cả tương đối của một món hàng, đồng thời bản thân tiền là một giá trị bởi có thể được sử dụng mọi lúc mọi nơi. Tiền cào bằng tất cả, bởi nó không đếm xỉa đến cái đặc thù. Lượng thắng chất. “Tiền diễn đạt mọi sự khác biệt về chất của sự vật bằng câu hỏi: “Bao nhiêu”? Tiền, với sự dửng dưng vô màu sắc, trở thành mẫu số chung của mọi giá trị. Nó làm rỗng cái cốt lõi của sự vật, tước bỏ tính cá biệt, giá trị riêng và tính vô ước (tức không thể so sánh được với nhau) của sự vật. Mọi thứ trôi tuột với cùng một trọng lượng riêng giống nhau trong dòng chảy không ngừng của đồng tiền. Mọi vật đều nằm trên cùng một cấp độ và chỉ khác nhau ở phạm vi tác động của chúng mà thôi”. Là cái ngang giá, tiền chuyển từ phương tiện thành mục đích tự thân tuyệt đối, một cách nói khác về phẩm giá của... Thượng Đế! Không cần mang hình thức giá trị “đích thực” của kim loại quý, tiền vẫn có giá trị danh nghĩa như một ký hiệu, biểu trưng có giá trị tối cao như phương tiện và mục đích trao đổi. Vậy, giá trị của tiền không ở hình thức của nó mà ở nội dung của tiến trình xã hội được nó vận hành. Là một vật, tiền đi từ túi người này sang túi người khác, và đó là “nguồn gốc cho sức mạnh vô biên của tiền đối với xã hội”. Cơ chế vận hành của nó được tóm lược trong hai hành động: chiếm hữu và xuất nhượng, căn cứ trên năng lực chi trả. Tiền là “thước đo của giá trị” và là “thước đo của vạn vật”. Bấy giờ, với tư cách là “giá trị phổ biến”, tiền hành động như là động lực cho mọi loại hoạt động, kể cả hoạt động phi nhân tính. Những gì không nên mua bán trở thành sản phẩm có thể mua bán. Trong chừng mực đó, tiền mang lại sự bất an và rối loạn xã hội, thách thức nền tảng giao tiếp và quan hệ đạo lý.
TỰ DO VÀ THA HÓA
Trong nền kinh tế tiền tệ, cá nhân cũng chuyển hóa tương tự như những hệ giá trị khi chúng được tác động bởi đồng tiền. Con người - giống như đồng tiền - trở nên “bình đẳng”, độc lập và năng động với cái giá phải trả là mất đi cái bản sắc cố định và riêng biệt. “Tiền thực chất là hình thức sở hữu hiệu quả nhất để giải phóng cá nhân ra khỏi những sợi dây ràng buộc so với các hình thức sở hữu khác”. Con người thoát khỏi sự ràng buộc vào một loại lao động và một lối sống nhất định, giống như giá trị của đồ vật từ nay chỉ cần thể hiện bằng tiền mặt một cách trung tính. Ở đây, G.Simmel có nhận xét tinh tế: trong nền kinh tế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, tưởng như chống lại sức mạnh của đồng tiền, thì “thật ra vẫn vận động theo cùng một hướng là biến cá nhân ngày càng phụ thuộc vào thành quả của người khác và càng ít phụ thuộc vào “những nhân cách” đứng sau lưng họ. Cả hai hiện tượng có cùng một nguồn gốc và tạo nên các mặt đối lập của một và cùng một tiến trình: sự phân công lao động hiện đại cho phép sự lệ thuộc tăng lên, đồng thời làm cho “nhân cách” tiêu biến đàng sau các chức năng của họ”. “Tiền và giao dịch tiền tệ càng tăng thì giá trị của cá nhân càng giảm, và câu hỏi trở thành: cá nhân có thể làm gì, thay vì cá nhân ấy là ai; mọi việc quy thành tiền thay vì giá trị của xúc cảm nhân loại”.
TIỀN VÀ LÝ TRÍ
Tiền, bằng sức mạnh vật chất, thỏa mãn ý muốn tự do của con người thông qua cơ chế thị trường. Nhưng, tiền, kỳ cùng, vẫn không thể quyết định mục đích của ý muốn ấy. May mắn là: lĩnh vực này thuộc thẩm quyền của lý trí. Tất cả phụ thuộc vào sự đối ứng giữa hai lực lượng: lý trí và lợi ích tiền bạc trong hoạt động có mục đích của con người. Tiền là điều kiện cần để hợp lý hóa hành động. Nhưng, ta có thể đồng ý với Simmel khi tin rằng “trí tuệ xã hội” đồng hành với nền kinh tế tiền tệ, buộc xã hội phải thấu hiểu vị trí và vai trò của đồng tiền trong xã hội để “cầm cương” đứa con khủng khiếp (“enfant terrible”) của chính mình. Ngày càng thấy cần thiết kết hợp giữa kinh tế học hướng đến hành động thực tiễn và triết học hướng đến suy tưởng để nhận thức thế giới như một toàn bộ. Tìm hiểu đồng tiền không chỉ để điều tiết thị trường mà còn để phục vụ sự phát triển xã hội. Là sản phẩm của nền văn minh, đồng thời là công cụ cho sự phát triển xã hội, tiền là yếu tố then chốt xác định những giới hạn của tự do và bình đẳng trong nền kinh tế tiền tệ.
Tiền không mang lại hạnh phúc, hiểu theo nghĩa tuyệt đối? Tiền có thể “cứu khổ cứu nạn”, tức mang lại hạnh phúc theo nghĩa tương đối? Nhưng ranh giới đó ở đâu? Một câu hỏi thú vị cho điều tra xã hội học và tâm lý xã hội(2).
Con người là sinh vật hữu hạn, song lại không có giới hạn. Bao giờ con người cũng có cái gì đó trước mắt để vượt qua và sở dĩ nó “có đó” là để được vượt qua. Con người vượt qua chính mình là vượt thoát những ranh giới, ràng buộc đang đặt ra cho mình. Có những ông bà tỉ phú đang nơm nớp ở Trung Quốc. Lại có chàng tỉ phú trẻ măng ở Mỹ hớn hở dành hết tài sản khổng lồ cho an sinh xã hội. Nói theo kiểu Camus, ta “phải tưởng tượng” chàng này đang rất hạnh phúc vì chưa lúc nào chàng có quyền quyết định tự do đến như thế. Một tác giả nhận định: “Triết lý về đồng tiền có thể góp phần “giáo dục” nhân loại và giúp họ nhớ lại rằng “thước đo của vạn vật” bao giờ kỳ cùng cũng là chính con người” (Protagoras). Ít ra là... đối với đồng tiền!
--
(1)Các trích dẫn đều từ: Georg Simmel, Triết học về đồng tiền / Philosophie des Geldes, 1900.
(2)Kết quả thăm dò từ Princeton dựa trên 450.000 người cho thấy, ở Mỹ, “người ta có sức khỏe tinh thần tốt khi thu nhập ở mức 75.000 đô la/năm, không cao hơn”! Xem: BBC (25-6-2015): Tiền và hạnh phúc: Mối quan hệ bí mật.

Bùi Văn Nam Sơn

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online ngày 08/02/2016 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/141780/Tien-la-tien-la-Phat.html. 

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Nguy cơ từ những “ngân hàng u minh”

SGTT.VN - Giống như một vị chưởng môn trong tiểu thuyết kiếm hiệp, những đúc kết từ kiến thức chuyên môn về toán ngẫu nhiên của giáo sư Phạm Hi Đức phối hợp với kinh nghiệm giám sát ngân hàng của riêng ông, chỉ được giảng dạy theo kiểu “tâm truyền”, vì nó quá mới chưa được đem vào sách vở. Là trưởng bộ môn kỹ thuật toán tài chính trường kỹ sư ECE Paris, phó giám đốc chương trình Toán – Tin định lượng của trung tâm Xuất sắc John von Neumann (JVN), đại học Quốc gia TP.HCM, mỗi giờ giảng của ông đều mang đến những khám phá thú vị cho sinh viên.

Nghiên cứu sâu về những mô hình tài chính dựa trên xác suất, những kinh nghiệm về quản trị rủi ro của giáo sư Phạm Hi Đức từ thực tế khủng hoảng thế giới và qua nhiều năm đại diện cho ngân hàng Quốc gia Pháp trong các hội nghị thế giới, đem lại chất liệu suy tư cho ngành ngân hàng nói riêng và quản lý vĩ mô nói chung.
 
Theo ông, khủng hoảng tài chính thế giới hiện đã rơi xuống đáy chưa?
Chưa. Vẫn còn những quả bom nổ chậm, hiện tượng nợ xấu từ bong bóng địa ốc sau khi chuyển sang châu Âu đang phát hiện dưới một hình thái mới ở châu Á. Thêm vào đó, tại Mỹ, số sinh viên ra trường không có việc làm do kinh tế khủng hoảng, đẩy món nợ sinh viên thành hơn 900 tỉ USD, một con số có thể sánh ngang khủng hoảng ngân hàng 2007 – 2010. Quả bom thứ ba là những quỹ đầu tư đen và các “ngân hàng trong bóng tối” khả dĩ vận động được những khối tiền to chưa từng thấy. Ngân sách thâm hụt của Mỹ từ thập niên 1970 (trừ vài ba năm) là một nguồn phiếu nợ, thêm vào dòng tiền bất chính nhưng có tổ chức, như những làn sóng ngầm không ai thấy được trước khi nó vỗ vào chỗ gần bờ dưới dạng sóng thần. Trong khi đó bên Mỹ khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn khiến cho nguy cơ khủng hoảng xã hội đổ dầu vào lửa âm ỉ của những quả bom nổ chậm kinh tế. Tình hình vô cùng nguy hiểm và… đầy bài học.
 
Ông nhìn thấy nguy cơ nào từ sự đảo chiều và lan rộng của cuộc khủng hoảng tiền tệ?
Đang lộ diện những nguy cơ: Trung Quốc sẽ làm gì? Về kinh tế, Trung Quốc là người nắm nhiều nợ nhất của Mỹ trong 30 năm qua. Vấn đề sắp đến là Trung Quốc sẽ làm gì với số tiền khổng lồ đó khi là chủ nợ. Trung Quốc còn có những “hố tiền đen” khổng lồ không ai đo được, đó là tài sản riêng tích tụ hơn 15 năm nay của các quỹ đầu tư và đại xí nghiệp không vào khuôn khổ quốc gia như luật lệ của Tây Âu, Mỹ, Nhật. Năm 2011 – 2012, tất cả những công trình nghiên cứu tài chính kinh tế định hướng về hai vấn đề. Một là mô hình hoá sự lan truyền của phá sản ngân hàng do thiếu thanh khoản, và hai là những tài chính trong bóng tối, nơi đang có những dòng tiền hoạt động như ngân hàng nhưng không ai biết được nó hoạt động thế nào. Những tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau ấy chắc chắn sẽ bộc phát, nhưng không biết sẽ nổ ra sao, lan truyền thế nào.
 
Việt Nam ảnh hưởng thế nào từ bên ngoài và bộc lộ những điểm đen chưa, khi tỷ lệ nợ xấu đang ở mức cao?
Việt Nam khó quan sát và đo đạc hơn Trung Quốc, vì dòng tiền Trung Quốc rất lớn có thể gián tiếp đo được qua ảnh hưởng trên đối tác, nhưng Việt Nam thì đo kiểu này còn dư độ sai quá nhiều. Chỉ có thể mô hình hoá theo độ xâm nhập của tài chính quốc tế trên tài chính quốc nội dựa vào phần tín dụng độc hại từ 2007 – 2010 nếu các đối tác thương mại có chính sách công bố các thống kê dòng tiền.
Đối diện với nợ xấu trong nước khác đối diện nợ xấu xâm nhập từ bên ngoài. Nếu chỉ là thị trường địa ốc và tài chính nội địa, có thể đóng cửa thanh toán nợ với nhau. Trong trường hợp đó, ảnh hưởng khủng hoảng thế giới đến mình không nhiều. Có thể đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng và giảm đi, nguy cơ kinh tế bị co thu lại rồi sẽ theo thời gian phục hồi. Nhưng lần này có thể khác vì vấn đề mới là tâm lý. Ngày xưa, người ta ki cóp từng đồng thấy bình thường, nhưng bây giờ người ta trông đợi lợi nhuận nhanh chóng, mức lãi suất chờ đợi là 10 – 15%, nếu mức đó không còn, coi như mất tín nhiệm. Kinh tế càng bị thu lại, không ai cho ai mượn tiền nữa. Nhưng với thị trường nội địa gần 100 triệu dân, kinh tế sẽ đi hết co thu và tiếp tục đi lên. Xác suất phục hồi nhiều hơn. Việt Nam trên con đường phục hồi có lẽ ít rủi ro hơn cộng đồng châu Âu. Lạm phát giảm từ mức cao, ngân hàng Nhà nước vẫn cầm cương được thị trường tiền tệ là tín hiệu đáng mừng.
 
Với vai trò một chuyên gia đại diện cho ngân hàng Nhà nước Pháp, ông có thể cho biết hiệp hội Ngân hàng quốc tế đã có biện pháp gì để chống lại rủi ro toàn hệ thống như hiệu ứng domino?
Phải để cho đầu óc mình lúc nào cũng mở, để đón cái tình cờ xảy đến. Không khép cái đầu óc của mình. Buộc nó vào một cái gì, tự cao, tự kiêu, chính là mình tự khép cửa.
Khi chưa mô hình hoá được vững vàng thì khó mà làm luật vì cụ thể không dự phòng được hậu quả. Năm năm nay, chủ đề mà chúng tôi nghiên cứu là nhìn vào sự mất thanh khoản vì các nhà băng mất tín nhiệm đối với nhau, và gần đây hơn, nghiên cứu làn sóng ngầm của các khối tiền chạy ngoài hệ thống các ngân hàng, để mô hình hoá sự lan truyền. Năm 2010, dự án điều lệ Basel III từ nhóm chuyên gia mà tôi đã từng tham gia đã được ký kết tại Seoul thành luật ngân hàng quốc nội của một số nước, để ứng xử khi rủi ro lan tràn toàn hệ thống phải làm sao, và rủi ro thanh khoản (khi các ngân hàng không cho mượn tiền lẫn nhau nữa), dẫn đến sụp đổ toàn hệ thống. Nhưng hiện nay, vẫn có sự chống đối của một số ngân hàng lớn, đa số là trong vùng Anh, Mỹ vì họ sợ phải hy sinh mối lợi cho sự cẩn trọng. Thêm vào đó quốc hội Mỹ không chính thức chuẩn nhận Basel III.
 
Từng giải quyết khủng hoảng, theo ông, xử lý khủng hoảng được đặt ra như thế nào từ quản lý vĩ mô đến từng doanh nghiệp?
Kinh tế vĩ mô trước đến giờ, ngoài khía cạnh tiền tệ và sản xuất, tiêu thụ, đã dần bao gồm cả những khái niệm về nhân lực, phát triển, hạnh phúc, bền vững… do đó khả dĩ có thể cho ta mô hình hoá rộng lớn. Nhưng mô hình nếu có cũng chưa chắc có thể giải bài toán được trong mọi trường hợp. Ngược lại kinh tế vi mô ở mức cá nhân một xí nghiệp hay doanh nghiệp chỉ có thể đóng góp giải quyết khủng hoảng nếu tất cả nhân viên của mọi nơi đều có cùng một thái độ đúng đắn. Trở lại chuyện cho vay đầu tư địa ốc đã nói, nếu một ngân hàng khắt khe nghiêm túc trong khi mọi nhà băng khác nhắm mắt cho vay, thì chỉ mình nó lỗ!
 
Từng làm kinh doanh ngân hàng, ông nhìn nhận như thế nào về yếu tố đạo đức trong kinh doanh ngân hàng?
Người làm ngân hàng phải biết tự kiềm chế mình khi kinh tế tăng trưởng, tự biết cho bao nhiêu tín dụng là vừa và có cách tổ chức sự đàn hồi khi kinh tế bị co thu lại. Nhìn tấm gương của Mỹ, những ngân hàng Mỹ trong năm 2010 hoàn toàn phó thác sự sống còn của mình vào chính phủ liên bang, rồi vài năm sau, khi đã phục hồi, họ lại trả nợ hết để không bị chính phủ dòm ngó nữa. Cả hai trường hợp đều xấu, một là cứu ngân hàng đã làm bậy trong ngắn hạn và hai là không có phương tiện giám sát để bảo đảm sự bền vững của ngân hàng. Công cụ giám sát phải khoa học hơn, rủi ro phải được tính bởi tài chính định lượng.
Thực tế cho tới gần đây, kỹ sư giỏi về tài chính định lượng đều bị ngân hàng hút hết, nhưng người giúp ngân hàng luồn lách tránh giám sát lại được trả lương cao hơn người giám sát, dẫn đến tình trạng hiệp sĩ thì ít, mà “ăn trộm” thì nhiều.
Môn dạy của tôi là đưa hành động đúng đắn, xử thế nguyên tắc vào luật lệ ngân hàng. Nhưng luật lệ không thể cấm được hết. Người làm ngân hàng phải dùng lý trí và hơn cả lý trí, dùng lương tri trong nền kinh tế thị trường. Tôi không cần và không muốn đề cập đến đạo đức và lương tâm. Vì trong toán và qua mô hình toán, ta có thể cảm nhận thế nào là một hành động cân bằng, hợp lý, có nhìn về lâu về dài. Mọi hợp đồng mua bán, cho vay đều là quyết định của cá nhân, phải dựa trên đầu óc suy xét và những bậc thang giá trị chuẩn mực cá nhân của mỗi người. Nếu chỉ tối ưu hoá mức lợi của mình hay doanh nghiệp mình thì nó vi phạm mục tiêu chuẩn mực là tối ưu hoá lợi ích cộng đồng trên lâu dài. Ta cho được vào phương trình cái gì dễ theo và đo đạc hơn là tính chất đạo đức.
 
Là một nhà giáo, nhà khoa học, ông có bị ảnh hưởng nhiều không khi luôn nằm trong tâm bão của những cuộc khủng hoảng?
Toán ứng dụng cho mình cái nhìn trừu tượng (nhưng không quá đáng) về cuộc đời, lấy cuộc đời đem mô hình hoá hoặc đơn giản hoá nó đi, cho mình đoán nhìn thấy những giải pháp. Khi vừa biết kinh tế, biết toán, biết tâm lý con người, nên cái gì cũng có một cách dẫn đến nhận chân. Có đến cùng được hay không còn tuỳ cơ duyên, nhưng hiểu được, là chấp nhận được sự thật. Thiếu phương cách này thường đẩy cái gì mình không biết vào bình phong của tâm linh, và phó thác không đặt câu hỏi nữa. Sự tiệm cận giữa toán và triết học giúp mình giản dị hoá, đầu óc suy nghĩ thanh thản hơn. Môn học của tôi là toán học ngẫu nhiên. Cái gì ngẫu nhiên, không có nghĩa là cắt nghĩa hay tiên đoán được, nhưng nó cho ta biết không có gì bí mật siêu hình đằng sau. Giống như hột xúc xắc, dù không biết sẽ ra mặt nào, nhưng mình có thể biết là chỉ có sáu mặt.
Đầu thế kỷ trước, Kurt Goedel, một nhà toán học đã chứng minh được chính ngay trong hệ thống suy luận toán có những điểm không thể chứng minh được hoặc đúng hoặc sai. Biết như thế thì không cần kêu gọi đến những thứ siêu hình nữa.
Môn dạy của tôi là đưa hành động đúng đắn, xử thế nguyên tắc vào luật lệ ngân hàng. Nhưng luật lệ cũng không thể cấm được hết. Người làm ngân hàng phải dùng lý trí và hơn cả lý trí, dùng lương tri trong nền kinh tế thị trường.
Ông đã trải qua một thời sinh viên khốn khó, từng đi lính thuỷ quân lục chiến Pháp, trải nghiệm nào là quý nhất với ông?
Rời đất nước năm 1974, cứ nghĩ sau ba tháng hè sẽ về lại quê hương, ai ngờ từ đó xa luôn. Năm tôi 18 tuổi, lần đầu tiên xa nhà, nhớ gia đình, nhớ món ăn mẹ nấu, trong cái lạnh lẽo mưa phùn Paris, nỗi đau càng đau hơn nữa. Đau mà không biết làm cách nào cho hết đau, chỉ mong đi ngủ để thấy mình thức giấc ở Sài Gòn… Chưa bước ra đời với một mảnh bằng, thì mùa hè làm công nhân ca đêm ở xưởng máy kiếm tiền đi học, vác bao tải chất hoá liệu, nhưng gió đêm làm thấy đầu óc rất thoáng thỉnh. Đời sinh viên vừa đi học vừa đi làm giúp tôi biết kiếm tiền và nhìn tiền như những mảnh giấy từ sớm.
Cuộc đời tôi có lúc vật vã, nhờ may mắn nên cũng vượt qua, tôi thấy phần lớn chuyện khổ sở đều từ trong đầu mình ra. Những ngày ở sư đoàn thuỷ quân lục chiến, tôi đã học được cách muốn chịu đau phải kêu gọi cái đau đó ra, cầm cái đau lên như một đồ vật và chơi với nó, một lúc sau cái đau sẽ càng khó cảm thấy, ấy là nó đang tan biến. Nỗi đau khi càng trốn tránh, càng làm ta sợ, giống như sợ ma vậy đó.
 
Chọn cách đi đi về về giữa Paris và TP.HCM để giảng dạy, ông nghĩ gì về sự giàu có của riêng mình?
Công việc làm cho chính phủ Pháp cho tôi có dịp chu du khắp thế giới, như một chứng nhân của thời cuộc, được sống với từng khoảnh khắc đáng nhớ của thế kỷ. Sự giàu có là những gì mình ghi nhớ trong đầu. Từ một kỹ sư ra làm phụ tá giám đốc ngân hàng Quốc gia Pháp, đưa trí tuệ nhân tạo vào ngân hàng, làm giám đốc công nghệ thông tin cho một hãng bảo hiểm châu Âu với hơn 1.200 chi nhánh, rồi buôn bán sàn, làm tư vấn, làm kiểm toán hay giám sát… tôi chỉ là một anh chàng nghịch ngợm, nay dùng những gì mình gom nhặt tứ xứ mong truyền cho sinh viên của mình sự “nghịch ngợm”, để khám phá, xây dựng những lý thuyết mới giúp xử lý tài chính.
Máu phiêu lưu trong tôi rất mạnh. Tôi giống một anh chàng lang thang hai tay thọc túi quần hơn là một khoa học gia. Năm lần đổi nghề với tôi là năm lần xung đột nội tâm, bỏ đi công việc cũ cũng tiếc, rồi khi có vợ con, lại cho thêm gia đình vào phương trình, nhưng mỗi lần tự hỏi, tôi vẫn chọn làm cái gì tốt cho cộng đồng nhỏ (gia đình) hay lớn hơn. Thay vì ngồi yên trong an toàn để chờ lên chức, tôi đổi góc nhìn tìm một đáp án cao hơn. Bây giờ, với những gì tích tụ được, tôi muốn tiếp cận với các thế hệ trẻ. Chỉ mong mình còn sức khoẻ, để tiếp tục khám phá. Lão Tử nói người giàu nhất là người không muốn thêm gì, cách chọn khôn khéo nhất là lựa chọn cái mình không thể không chọn. Khi không dòm ngó là mình có tất cả.
 
Khả năng nào giúp ông có thể lắng nghe chính mình để có được quyết định sáng suốt nhất?
Điều kiện tiên quyết là đừng tự bảo ta muốn thế kia, ta phải được như thế này. Sự di chuyển cũng giúp mình thoáng cái đầu, giúp mình gia tăng sức chịu đựng. Phải để cho đầu óc mình lúc nào cũng mở, để đón cái tình cờ xảy đến. Không khép cái đầu óc của mình. Buộc nó vào một cái gì, tự cao, tự kiêu, chính là mình tự khép cửa.
 
Là hậu duệ của phó bảng Phạm Hy Lượng (1834-1886), danh sỹ đời Tự Đức, gia tài lớn nhất mà ông nhận được là gì?
Là cái không thể mô tả được, đó là tình yêu thương. Ông cụ thân sinh ra tôi trước là giáo sư đại học nha khoa, chính ông đã truyền cho tôi đam mê khảo cứu, nghiên cứu. Mẹ tôi trước là giáo viên trường Trưng Vương, hướng các con vào bậc thang giá trị của sự hiểu biết, vào tâm linh nhiều hơn thay vì là tiền bạc, vật chất.
 
Dường như Lão Tử ảnh hưởng nhiều đến triết lý sống của ông?
Theo ông đó là “khoẻ” nhất, không có ràng buộc gì cả, với điều kiện theo được thật thà. Lão Tử là một trong những người có quan điểm có thể nói “gần toán” nhất.
 
GS.TS Phạm Hi Đức

Thực hiện: Kim Yến
Chân dung hội hoạ: Hoàng Tường
GS.TS Phạm Hi Đức sinh năm 1956 tại Sài Gòn, sang Pháp năm 1974, kỹ sư và tiến sĩ môn kinh tế lượng Ecole Centrale Paris (1980 – 1985). Thạc sĩ tài chính, trường Khoa học chính trị – xã hội Paris Sciences Po Paris (1979 – 1981). Cử nhân quản trị kinh doanh đại học Panthéon Sorbonne (Paris I) (1977 – 1979). Hiện ông là trưởng khoa tài chính định lượng, trường cao học kỹ sư ECE Paris.
Ông từng hoạt động trong lĩnh vực giám sát ngân hàng về quản lý rủi ro điều hành của hiệp ước Vốn Basel II tại uỷ ban Giám sát ngân hàng Nhà nước Pháp (2003 – 2007), cán bộ sàn giao dịch ngoại hối và giám đốc trung tâm Nghiên cứu thị trường tiền tệ tại ngân hàng Natexis (1996 – 1999), giám đốc công ty kiểm toán Pricewaterhouse Coopers Pháp, chủ nhiệm ngành tin học tại ngân hàng Tín dụng quốc gia Pháp (1994 – 1996), phụ tá giám đốc ngân hàng Nhà nước Pháp (1982 – 1989).

Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ SÀI GÒN TIẾP THỊ MEDIA ngày 15/10/2012 truy cập từ http://sgtt.vn/Loi-song/171245/Nguy-co-tu-nhung-“ngan-hang-u-minh”.html.

Ngân hàng zombie và “tài sản độc hại”

SGTT.VN - “… Chỉ có một lý do duy nhất mà các ngân hàng đó đã chưa sụp đổ là vì Chính phủ đang hành động như một chỗ chận lại… có nghĩa là đảm bảo những nghĩa vụ tài chính của ngân hàng. Nhưng những ngân hàng đó là những ngân hàng thây ma biết đi, không có khả năng cung cấp tín dụng cho nhu cầu của nền kinh tế… Nên nhớ rằng, chừng nào chúng ta kéo dài cuộc sống của chúng, thì việc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế sẽ càng khó hơn… Duy trì là ngăn chặn việc phục hồi kinh tế…”

Những ngân hàng thây ma biết đi – Zombie Banks
Vấn đề đáng lo sợ nguồn tiền những ngân hàng zombie này ăn chính là từ nguồn tiền của người đóng thuế và đấy mới là mối nguy hại cho xã hội... Ảnh minh hoạ. Ảnh: Hồng Thái

Giáo sư kinh tế người Mỹ, Paul Krugman – nhận giải thưởng Nobel năm 2008, đã nêu những nhận định trên trong một bài viết của ông vào ngày 23.2.2009 trên báo New York Times. Bài báo này ông tranh luận nhưng vẫn đồng ý với ông Alan Greenspan, cựu thống đốc ngân hàng Trung ương Mỹ, về việc tạm thời quốc hữu hoá một số ngân hàng để tạo thuận lợi cho việc tái cấu trúc được nhanh chóng và trật tự hơn. Khái niệm mà giáo sư Krugman nêu ra để cho rằng một số ngân hàng cần phải được quốc hữu hoá là “Zombie Banks” (tạm dịch những ngân hàng xác chết biết đi – ngân hàng thây ma biết đi...), điều mà trong môi trường hoạt động ngân hàng tại Việt Nam chúng ta ít khi nghe hoặc nếu có thì cũng chưa được chấp nhận rộng rãi.
Thế nào là ngân hàng thây ma – xác chết? Ngắn gọn: (i) Ngân hàng zombie A nào đó có giá trị ròng nhỏ hơn zero, (ii) hoặc ngân hàng zombie B nào đó mà tổng tài sản nợ lớn hơn tổng tài sản, (iii) hoặc ngân hàng zombie C nào đó mà tất cả vốn góp – vốn đăng ký không còn nữa nhưng vẫn được (chính phủ hỗ trợ) cho phép hoạt động.
Những ngân hàng zombie trên bề ngoài của nó không khác gì những ngân hàng bình thường khác nhưng với những thanh tra uy tín của các cơ quan chế tài hoặc chuyên gia phân tích độc lập lão luyện thì không quá khó để biết những tính chất và nội dung zombie được che giấu. Có hai nhóm ngân hàng zombie: (i) ngân hàng zombie chưa bị lộ – tài sản nợ xấu – nợ bẩn và những khoản thua lỗ được che giấu bằng sổ sách giả cùng những thủ thuật kế toán – kiểm toán và tiếp tục hoạt động kinh doanh với nhiều hình thức gian lận và một trong các hình thức thông dụng nhất là Ponzi; và (ii) ngân hàng zombie đã bị lộ – khi tình thế vượt qua mức không còn che đậy được hoặc một vài khách hàng tự khám phá và ngưng giao dịch rồi chính phủ phải can thiệp nhưng vẫn cho phép hoạt động với những giới hạn. Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers là một ngân hàng zombie hàng đầu của những ngân hàng zombie khác tại Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới.
Bước đúng kế tiếp là chấp nhận “đau một lần” và phải trả giá bằng tiền thuế của người dân cần cù và các doanh nghiệp lương thiện nhằm giải quyết những khối u ác tính đã được xác định và còn nhỏ.
Ngân hàng zombie có về Việt Nam không?
Cho đến nay, sau khi đề án 254 đã được phê duyệt hai tuần, danh tính các ngân hàng được xếp nhóm 3 – hoạt động dưới mức trung bình và nhóm 4 – hoạt động yếu kém chưa được công bố chính thức rộng rãi. Nhưng, với những người quan tâm hoặc am hiểu trong ngành, chỉ với tính loại suy đơn giản qua công bố của các ngân hàng nhóm 1 và 2, cũng biết được ngân hàng nào thuộc hai nhóm đưới mức trung bình và yếu kém này.
Động thái phân nhóm của ngân hàng Nhà nước vừa qua là một cách rất tinh tế để chỉ điểm những ngân hàng zombie và có nguy cơ biến thành ngân hàng zombie trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Động thái này là một thay đổi lớn và tích cực của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước, mặc dù đã trễ.
Tài sản độc hại – tài sản rắc rối
Để (được) trở thành ngân hàng zombie, việc trước tiên là những nghiệp chủ, một nhóm hay ban điều hành của ngân hàng đó không có hoặc đánh mất vai trò chuyên nghiệp đặc biệt và nhất là cái tâm thế tử tế, đàng hoàng tối thiểu. Kế tiếp, họ cấu kết để đưa – rước những tài sản độc hại hoặc rắc rối (toxic assets – trouble assets) vào trong hệ thống các bản báo cáo tài chính của ngân hàng. Đưa nhóm tài sản độc hại vào ngân hàng là cấy mầm cho sự biến dạng tế bào thành những khối u ác tính và lan tràn tàn phá những nhóm tài sản lành mạnh khác.
Nay đã quá rõ ràng. Tài sản độc hại – rắc rối của nhóm ngân hàng zombie tại Mỹ và những nền kinh tế khác tại Âu châu đều có nguồn gốc trực tiếp và gián tiếp đến bất động sản.
Bất động sản – lãnh vực nhà ở – nguồn vốn và tín dụng nhà ở tự nó không có tính chất gì độc hại – rắc rối. Nó chỉ biến tướng và trở thành độc hại – rắc rối khi những nhóm lợi ích gian lận bên ngoài được cấu kết – dàn dựng với những nhóm lợi ích bên trong ngân hàng để chiếm đoạt và thoả mãn lòng tham kiêu ngạo lẫn lòng tham vô độ.
Việt Nam thì sao?
Nhóm và loại tài sản độc hại – rắc rối này có trong hệ thống ngân hàng Việt Nam không? Hẳn nhiên là có nhưng tự nó chưa lớn đến mức tạo ra một cuộc khủng hoảng làm tê liệt nền kinh tế. Rất khó thống kê chính xác, vì cách tính và chuẩn kế toán rất riêng của Việt Nam, với số tài sản độc hại – rắc rối nằm rải rác trong hệ thống ngân hàng và nhất là trong các ngân hàng nhóm 3 và 4 hiện nay. Tuy nhiên, dễ đồng thuận rằng chúng góp phần không nhỏ vào tình hình lạm phát hiện nay.
Bên cạnh các công ty tư nhân và một bộ phận người đầu cơ trong xã hội lao sâu vào những cơn sóng bất động sản từ năm 2005 – 2009 thì hầu hết các tập đoàn, các tổng công ty, công ty nhà nước cũng lao vào, và thậm chí làm vai trò dẫn dắt những dự án hút những lượng vốn lớn trong hệ thống ngân hàng nhưng không thích ứng với nhu cầu thật và lớn của xã hội.
Lối thoát nào?
Những ngân hàng zombie sẽ tạo và sinh ra hàng trăm hàng ngàn công ty zombie và nhóm công ty zombie này đang ôm một lượng lớn các dự án zombie – những khu đô thị, những khu biệt thự, những cao ốc nhà ở văn phòng bỏ hoang và không có thị trường người mua – mua thật ở thật. Đó là mối nguy hại rất thật vì nó đã làm méo mó thị trường vốn, thị trường tín dụng, thị trường chứng khoán… và nếu vẫn còn kéo dài thêm năm 2012 thì hệ quả kinh tế sẽ rất lớn và khó lường được.
Như nhà báo tài chính Yalman Onaran đã viết trong cuốn sách Zombie Banks xuất bản tháng 11.2011: “Những ngân hàng zombie này không ăn thịt người, nó chỉ ăn tiền… Vấn đề đáng lo sợ nguồn tiền những ngân hàng zombie này ăn chính là từ nguồn tiền của người đóng thuế và đấy mới là mối nguy hại cho xã hội…”
Đề án 254 và động thái khoanh vùng các ngân hàng zombie của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước hiện nay là bước đi đầu tiên và đúng hướng. Bước đúng kế tiếp là “đau một lần” và phải trả giá bằng tiền thuế của người dân cần cù và các doanh nghiệp lương thiện nhằm giải quyết những khối u ác tính đã được xác định và còn nhỏ. Một chu kỳ thay đổi chiều sâu của hệ thống ngân hàng và sự sống còn, lớn mạnh của từng ngân hàng đang trải ra phía trước.
Đừng trễ nữa vì hệ quả kinh tế và bất ổn xã hội sẽ là cấp số nhân chứ không còn ở cấp số cộng.

Lê Trọng Nhi – Phùng Anh Tuấn

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online, ngày 19/03/2012, truy cập từ http://sgtt.vn/Goc-nhin/162012/Ngan-hang-zombie-va-“tai-san-doc-hai”.html.

Ngân hàng năm 2012: mối lo từ nợ xấu

SGTT.VN - Dù chịu ảnh hưởng chung của chính sách tiền tệ thắt chặt trong năm 2011 nhưng hoạt động kinh doanh của nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục tăng trưởng. Lợi nhuận của một số ngân hàng đã công bố tốt hơn so với năm 2010 như Vietinbank (tăng 77,62%), Eximbank (tăng 68,6%), SHB (tăng 50,82%), MBB (tăng 29,03%)… Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn bắt đầu gia tăng có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động năm 2012.

Habubank là ngân hàng đầu tiên báo lỗ trong quý 4/2011 gần 42 tỉ đồng, mặc dù cả năm vẫn lãi, báo hiệu một năm kinh doanh khó khăn cho các ngân hàng trong năm 2012.
Nguôn: Báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 của các ngân hàng và tính toán của người viết

2011: Lợi nhuận vẫn tốt
Hoạt động ngân hàng trong năm 2011 bắt đầu có sự tách tốp do ngân hàng Nhà nước (NHNN) nới lỏng hạn mức tăng trưởng tín dụng cho một số ngân hàng vào cuối năm. Theo báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 của một số ngân hàng đã công bố, CTG và MBB có tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao với mức tăng lần lượt là 25,25% và 31,26%. ACB, EIB, VCB… có tốc độ tăng trưởng tín dụng từ 17 – 20%. Riêng Habubank có tốc độ tăng trưởng tín dụng -4,57%. Đối với mảng huy động vốn, bốn ngân hàng là ACB, CTG, MBB, và SHB có tốc độ tăng trưởng huy động vốn trên 20%, trong khi đó, tăng trưởng huy động vốn của STB và EIB lại bị giảm lần lượt là -7,56% và -5,15%.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng tuy khác nhau khá lớn nhưng kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 của những ngân hàng này đều tương đối tốt so với năm 2010. Lợi nhuận sau thuế cao nhất được công bố đến thời điểm này là của CTG với 5.784 tỉ đồng. Tiếp đến lần lượt là lợi nhuận của VCB (4.527,8 tỉ), ACB (3.193,8 tỉ), EIB (3.051,3 tỉ), MB (2.129 tỉ), Sacombank (2.033,1 tỉ), SHB (735,8 tỉ) và Habubank (348,8 tỉ). Riêng Habubank, quý 4/2011, ngân hàng mẹ lỗ -41,7 tỉ đồng. Các chỉ số ROE đa phần ở mức trên 10% và ROA trên 1%.
Nguồn: Báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 của các ngân hàng và tính toán của người viết

2012: rủi ro suy giảm chất lượng hoạt động

Mặc dù các ngân hàng tiếp tục lãi lớn nhưng một số chỉ số về chất lượng hoạt động của ngân hàng bắt đầu có dấu hiệu xấu. Yếu tố đầu tiên chính là thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Lần đầu tiên, các ngân hàng thương mại (NHTM) lớn khi cho các tổ chức tín dụng (TCTD) nhỏ khó khăn về thanh khoản vay đều yêu cầu phải có tài sản đảm bảo. Một số khoản cho vay liên ngân hàng đã quá hạn khiến NHTM cho vay phải trích dự phòng. Tuy giá trị trích dự phòng chưa lớn nhưng điều này cũng cho thấy: nếu tình trạng khó khăn về thanh khoản của hệ thống NHTM tiếp tục kéo dài thì con số trích dự phòng sẽ ngày càng gia tăng thêm. Nguyên nhân là do quy mô các khoản cho vay liên ngân hàng thường lớn, nhiều ngân hàng có các khoản cho vay liên ngân hàng chiếm từ 10 – 20% tổng tài sản. Tính đến hết quý 4/2011, dự phòng cho các TCTD vay của CTG là 26,1 tỉ (năm 2010 là 13,7 tỉ), VCB là 18,9 tỉ (năm 2010 là 9,8 tỉ)…
Không chỉ có vậy, tỷ lệ nợ xấu cũng như nợ nhóm 2 của các NHTM đã tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng ở mức 3,3% tổng dư nợ, cao hơn so với mức 2,14% vào cuối năm 2010. Còn theo số liệu của tám NHTM đã công bố báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 thì chỉ có VCB có tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ, còn lại các NHTM khác đều có tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Riêng Habubank, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh từ 2,39% năm 2010 lên 4,69% năm 2011. Nợ nhóm 2 của các ngân hàng đều có sự tăng nhanh cả về giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tương đối. Các NHTM có tỷ lệ này tăng nhanh nhất là HBB từ 9,86% năm 2010 lên 13,34%, VCB tăng từ 5,27 lên 8%, MBB tăng từ 0,6 lên 1,76%...
Trong tình hình cả nền kinh tế tăng trưởng bị chậm lại, rủi ro cho vay tăng và đặc biệt là bị giới hạn về tăng trưởng tín dụng thì các NHTM đã có xu hướng gia tăng mức lãi suất cho vay đối với khách hàng để bù đắp các rủi ro. Điều này khiến cho lợi nhuận biên từ hoạt động tín dụng khi cho vay đối với khách hàng có xu hướng tăng cao. Có thể nhận thấy rằng, “tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên giá trị cho vay khách hàng” của năm 2011 đều cao hơn nhiều so với năm 2010. Đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân lý giải cho việc lợi nhuận của hệ thống ngân hàng trong năm 2011 vẫn tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng.
Nguồn: Báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 của các ngân hàng và tính toán của người viết

Trong năm 2012, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2012 dự kiến sẽ ở mức 15 – 17% nhưng sẽ được xác định phù hợp với trạng thái hoạt động của từng ngân hàng thay vì cào bằng như trước. Điều này sẽ dẫn tới việc các nhóm ngân hàng tốt sẽ được phân bổ các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn. Đây là cơ hội để nhóm này tiếp tục bứt phá mạnh để trở thành nhóm các ngân hàng dẫn đầu. Còn các nhóm ngân hàng nhỏ khác sẽ có chỉ tiêu thấp hơn, thậm chí, có thể có các ngân hàng sẽ khó có cơ hội được tăng trưởng tín dụng để tập trung vào hoạt động tái cấu trúc ngân hàng.
Tuy nhiên, các rủi ro về việc nợ xấu gia tăng cũng như thanh khoản tiếp tục là mối đe doạ lớn với lợi nhuận của các ngân hàng ngay từ quý đầu tiên của năm 2012. Nợ nhóm 2 đang có xu hướng gia tăng, nếu các khách hàng tiếp tục chậm trả nợ đối với ngân hàng sẽ khiến cho ngân hàng buộc phải chuyển nhóm nợ. Điều này đồng nghĩa với tỷ lệ trích dự phòng sẽ gia tăng và lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm xuống. Tỷ lệ trích dự phòng đối với nợ nhóm 2 là 5%, nợ nhóm 3 tăng lên là 20%, nhóm 4 là 50% và nhóm 5 là 100%. Thanh khoản của nhiều TCTD yếu kém cũng khiến cho các khoản vay liên ngân hàng không thể trả được cũng làm cho nhiều TCTD tiếp tục tăng các khoản chi phí trích lập dự phòng lên.

Nguyên Minh Cường

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online, ngày 06/02/2012, truy cập từ http://sgtt.vn/Goc-nhin/158565/Ngan-hang-nam-2012-moi-lo-tu-no-xau.html.

Nguồn gốc lợi nhuận 2011 và ẩn số 2012

Ảnh: Tuệ Doanh.
(TBKTSG) - Bất chấp sự khó khăn chung của nền kinh tế và lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm mạnh, nhiều ngân hàng vẫn đạt được lợi nhuận rất cao. Tuy nhiên, khi xem xét nguồn gốc lợi nhuận của ngân hàng chúng ta vẫn thấy tiềm ẩn những yếu tố không bền vững và lợi nhuận năm 2012 vẫn còn là một ẩn số.
 
Chênh lệch lãi suất huy động và cho vay tạo nên kỳ tích lợi nhuận
Với phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động tín dụng vẫn chiếm một tỷ trọng lớn. Do vậy, lợi nhuận ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ lãi biên ròng (NIM - net interest margin) và tỷ lệ nợ xấu.
Năm 2011, lạm phát tăng mạnh buộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thắt chặt tín dụng khiến lãi suất tăng vọt. Có thời điểm lãi suất cho vay lên tới trên 25%, còn lãi suất huy động lên 20%. Hầu hết các ngân hàng buộc phải lách trần lãi suất huy động 14% để huy động vốn. Tuy nhiên, dù khó khăn trong huy động vốn và bị giới hạn bởi trần tăng trưởng tín dụng nhưng lợi nhuận các ngân hàng vẫn tăng mạnh do chênh lệch lãi suất cho vay và huy động lớn.
Thực vậy, theo báo cáo tài chính riêng lẻ của Ngân hàng Công thương (CTG) lợi nhuận sau thuế của ngân hàng này năm 2011 đạt 5.784 tỉ đồng, tăng tới 77,64% so với năm 2010. Doanh thu từ hoạt động tín dụng đạt 55.501 tỉ đồng, tăng 74% so với năm 2010, trong khi đó tăng trưởng cho vay khách hàng của CTG trong năm 2011 chỉ khoảng 24,44%.
Ngoài CTG, ngân hàng đạt được sự tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng khác là Eximbank (EIB). Theo báo cáo tài chính riêng lẻ, lợi nhuận sau thuế của EIB đạt 3.051 tỉ đồng, tăng 68,66%, trong khi tăng trưởng cho vay khách hàng chưa đến 20%. Ngoài hai ngân hàng trên thì các ngân hàng đang niêm yết khác như Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) đã có doanh thu và lợi nhuận sau thuế tăng khá mạnh.
Để xác định nguồn gốc lợi nhuận, có lẽ phải xem xét tỷ lệ lãi biên ròng (NIM) của các ngân hàng. Kết quả tính toán cho thấy NIM của CTG năm 2011 lên tới 5,03%, cao nhất trong số các ngân hàng. Sacombank (STB) có NIM đứng thứ hai với mức 4,48%. Trung bình tám ngân hàng đang niêm yết có hệ số NIM lên tới 4,18%, cao hơn khá nhiều so với mức 3,64% năm 2009 và 3,37% năm 2010. Như vậy, rõ ràng hệ số NIM cao hơn là yếu tố chính làm cho lợi nhuận của các ngân hàng tăng.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý lợi nhuận tăng không đồng nghĩa với việc ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Để xét hiệu quả hoạt động của ngân hàng nên xem suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các ngân hàng. Trong số tám ngân hàng niêm yết công bố báo cáo tài chính thì chỉ có ba ngân hàng ACB, CTG và EIB có ROE tăng so với năm trước, còn lại đều sụt giảm.
Nguyên nhân, một phần do các ngân hàng này mới tăng vốn nhưng lợi nhuận tăng chưa tương ứng. Ngoài ra, ROE sụt giảm còn do lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh phi tín dụng giảm và phải trích lập dự phòng cao hơn. Cá biệt, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (HBB) bị lỗ hơn 40 tỉ đồng trong quí 4 do lỗ từ hoạt động kinh doanh ngoại hối.


Ẩn số nợ xấu quyết định lợi nhuận 2012
Kết quả tính toán cho thấy ROE trung bình (trọng số) của tám ngân hàng niêm yết đạt 19,68%, cao hơn khá nhiều so với mức 15,24% của toàn thị trường. Trong đó, ROE của các ngân hàng như ACB, CTG và EIB cao hơn 20%. Đây là một kết quả ấn tượng. Tuy nhiên, liệu mức lợi nhuận này đã phản ánh thực chất lợi nhuận của ngân hàng hay chưa thì cần phải xem nợ xấu của các ngân hàng.
Nợ xấu của các ngân hàng vẫn là một ẩn số. Con số chính thức của toàn hệ thống được công bố năm 2011 chỉ là 3,39%. So với thông lệ quốc tế, đây là mức khá an toàn khi vẫn ở dưới ngưỡng 5% và cũng thấp hơn nhiều so với nợ xấu của ngân hàng nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, tại hội nghị ngành ngân hàng cuối tháng 12-2011, ông Trần Minh Tuấn - Phó thống đốc NHNN - thừa nhận con số trên phản ánh chưa đúng thực chất rủi ro tín dụng của các ngân hàng do tiêu chuẩn phân loại nợ hiện nay còn bất cập và các tổ chức tín dụng thường không phân loại đúng theo quy định. Bên cạnh đó, một thực tế là tình trạng “đảo nợ” làm đẹp báo cáo tài chính của các ngân hàng cũng xảy ra phổ biến.
Theo ước tính của nhiều chuyên gia, nợ xấu của các ngân hàng có thể lên tới 7-8%, thậm chí trên 10%. Như vây, nếu trích đủ, trích đúng thì có thể lợi nhuận của các ngân hàng sẽ giảm mạnh so với những con số hiện nay.
Báo cáo tài chính năm 2011 của một số ngân hàng cũng cho thấy một nghịch lý đang tồn tại là dù nợ xấu của ngân hàng tăng nhưng trích lập dự phòng lại không tăng tương ứng, thậm chí còn giảm so với năm trước.
Chẳng hạn, khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của EIB năm 2011 chỉ là 270 tỉ đồng, tăng chưa đến 2% so với năm trước. Tương tự của ACB là 280 tỉ đồng, tăng khoảng 23%, trong khi đó nợ xấu (nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5) của ACB lại tăng gấp ba lần lên 837 tỉ đồng. SHB chỉ trích lập dự phòng rủi tín dụng 101 tỉ đồng, thấp hơn mức 150 tỉ đồng của năm 2010, trong khi đó nợ xấu lại tăng gần gấp đôi. Xem báo cáo tài chính của các ngân hàng khác (trừ VCB và CTG) cũng cho thấy hiện tượng tương tự.
Năm 2012, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt với mục tiêu tăng trưởng tín dụng dự kiến 15-17%. Lãi suất trung bình dự kiến vẫn sẽ ở mức cao. Như vậy, ngân hàng vẫn có thể được hưởng một tỷ lệ lãi biên cao. Tuy nhiên, chìa khóa lợi nhuận của ngân hàng là có kiểm soát được nợ xấu hay không.
Thuyết minh báo cáo tài chính của các ngân hàng cho thấy nợ nhóm 2 đang có chiều hướng tăng mạnh. Nguy cơ nợ nhóm 2 phải chuyển lên các nhóm cao hơn là rất lớn khi khách hàng chậm trả nợ hoặc phá sản. Lúc đó khoản trích lập dự phòng cụ thể rủi ro cho vay khách hàng sẽ tăng lên.


Hồ Bá Tình

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 11/02/2012, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/70961/Nguon-goc-loi-nhuan-2011-va-an-so-2012.html.

Cần bao nhiêu tiền để tái cơ cấu ngân hàng?

Cần bao nhiêu tiền để tái cơ cấu ngân hàng?
Nhiều năm gần đây, hệ thống ngân hàng luôn nằm trong tình trạng mất cân đối giữa huy động và cho vay, đe dọa an toàn thanh khoản - Ảnh: SGTT.

Tìm nguồn tiền để xử lý nợ xấu, không nên để ngân hàng thương mại nhà nước “sở hữu chéo” các ngân hàng “bệnh tật”... Đó là những nội dung liên quan đến tái cơ cấu ngân hàng được các chuyên gia tài chính đề cập khá sâu sắc tại một hội thảo cuối tuần trước, với sự nhấn mạnh cần đẩy nhanh tiến trình thực hiện.

Việc không thể đừng!

Lý do đầu tiên của việc cần đẩy nhanh tái cơ cấu ngân hàng, theo lãnh đạo một ngân hàng thương mại Nhà nước thì tính đến tháng 6/2011, hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam đạt con số 123 đơn vị. Do tổ chức tín dụng liên tục mở rộng quy mô mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch và cùng đó là quá trình thực hiện quy định tăng vốn của Chính phủ, đến cuối tháng 9/2011, tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại đạt 336.300 tỷ đồng, gấp 2,26 lần so với mức cuối 2008, tương đương 16,8 tỷ USD.

Hai yếu tố trên đã tạo nên tổng tài sản của hệ thống tổ chức tín dụng ở mức gấp hai lần so với cuối năm 2008.

Lý do thứ hai là nhiều năm gần đây, hệ thống ngân hàng luôn nằm trong tình trạng mất cân đối giữa huy động và cho vay, đe dọa an toàn thanh khoản. Đơn cử, đến cuối tháng 7/2011, tổng huy động vốn đạt 2.585 nghìn tỷ đồng, tăng 86% so với cuối 2008, trong đó, tốc độ huy động vốn năm 2009: 29,88%; 2010 tăng 36,24%; còn 7 tháng đầu 2011 mức tăng chậm lại còn 5,46%.

Tuy nhiên, ở chiều cấp tín dụng lại còn tăng mạnh hơn cả về con số tuyệt đối và tương đối. Theo đó, đến cuối tháng 7/2011, tổng dư nợ tín dụng đạt 2.650 nghìn tỷ đồng, tăng 97% so với cuối 2008.

Quá trình tăng trưởng tín dụng nóng được dồn tích từ các năm trước đó như: năm 2009, tín dụng tăng 39,57%; 2010 tăng 32,43%. Những năm này đứng trước bối cảnh nền kinh tế bị suy giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, Ngân hàng Nhà nước phải nới lỏng chính sách tiền tệ để vượt qua suy giảm, trong đó có gói hỗ trợ lãi suất 4% khoản vay VND có số dư đến 31/12/2009 lên tới 385.824 tỷ đồng.

Mãi đến đầu năm 2011 đến nay, do lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước buộc phải thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, kiểm soát lượng tiền cung ứng, tăng mạnh lãi suất điều hành, khống chế chỉ tiêu tín dụng không quá 20%, hạn chế dư nợ phi sản xuất nên mức tăng tín dụng 7 tháng đầu năm chỉ khoảng 7,06%, ước cả năm chỉ tăng 12%.

Lý do thứ ba, tình hình cơ cấu tài sản “Có” của các tổ chức tín dụng hết sức thiếu bền vững khi hoạt động cấp tín dụng vẫn là mảng doanh thu chủ yếu, còn các mảng khác đều bị xem nhẹ, dẫn đến một số đơn vị lâm vào cảnh “ăn đong” ở nhiều thời điểm trong năm.

Cụ thể: tài sản tín dụng chiếm tỷ trọng tới 56,1%; đầu tư trên thị trường liên ngân hàng chiếm 18,6%; đầu tư vào tín phiếu và các chứng khoán của Chính phủ chỉ 5,2% và chủ yếu tập trung tại các ngân hàng thương mại nhà nước và một số ít ngân hàng thương mại cổ phần lớn; đầu tư giấy tờ có giá khác: 3,9%; duy trì tài sản có ở nước ngoài 3,4%; tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước: 1,7%; tiền mặt tại quỹ: 1,7%; tài sản có khác chiếm 9,4%.

Lý do thứ tư, do hệ thống không đồng đều về quy mô của từng đơn vị lại cùng hoạt động chung một môi trường, cộng với sự khác biệt về khả năng quản trị, năng lực tài chính nên không ít đơn vị luôn dựa dẫm vào Ngân hàng Nhà nước, đẩy “người cho vay cuối cùng” vào tình thế không bao giờ… ngớt việc! Nguyên Thống đốc Nguyễn Văn Giàu có lần nhận xét: “Từ 2007 đến 2011, thanh khoản hệ thống ngân hàng chưa bao giờ có một ngày bình yên”.

Sự căng thẳng thanh khoản có nhiều yếu tố nhưng nổi lên trong đó là hệ số sử dụng vốn luôn xấp xỉ bằng 100% hoặc vượt quá. Nguyên một lãnh đạo cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước đưa ra tỷ lệ cấp tín dụng VND/huy động vốn VND như sau: năm 2008: 101%; 2009: 112%; 2010: 102%; cuối tháng 7/2011: 98,6%.

Một câu hỏi đặt ra, tỷ lệ vượt nguồn 1% của 2008, 12% của 2009 và 2% của 2010 được tổ chức tín dụng lấy tiền ở đâu để cấp tín dụng, nếu không phải nhận từ Ngân hàng Nhà nước và/hoặc vay trên thị trường liên ngân hàng?

Từ thực tế đó, ông Kiều Hữu Thiện, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng nhận xét: “Vấn đề tái cấu trúc ngân hàng là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng hiện nay, bởi hệ thống này hiện đang tồn tại nhiều bất cập trong hoạt động; chưa làm tốt vai trò của một trung gian tài chính trong nền kinh tế, khiến dòng vốn bị ách tắc, chi phí vốn quá cao”.

Cần bao nhiêu tiền để tái cơ cấu?

Theo ông Kiều Hữu Thiện, mục tiêu tổng thể của tái cơ cấu ngành ngân hàng là hướng tới một hệ thống minh bạch, phát triển bền vững, đảm bảo phân bổ tốt nguồn lực từ tiết kiệm đến đầu tư. Nhưng một trọng tâm không thể không chú trọng là phát triển hệ thống tài chính khu vực nông thôn, hiện đang bỏ ngỏ.

Ông Thiện cho rằng, rất nhiều năm qua, nhu cầu vốn ở khu vực nông thôn rất lớn nhưng chỉ có hiện diện của Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội và vai trò mờ nhạt của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong khi thiếu vắng các định chế tài chính lớn khác. Do thị trường tài chính nông thôn còn lạc hậu nên đã tạo điều kiện để “tín dụng đen” phát triển ồ ạt, gây khó khăn cho quản lý và hậu quả khó lường về mặt xã hội.

Từ thực tế này, ông Thiện đề xuất, khi tái cấu trúc ngân hàng, cần có cơ chế hỗ trợ quỹ tín dụng nhân dân hoạt động thông qua cơ chế miễn giảm thuế và vốn. Ví dụ, miễn giảm thuế vài năm đầu tiên khi thành lập cho các quỹ này và/hoặc yêu cầu các ngân hàng thương mại khác ít hoạt động ở khu vực nông thôn phải dành một tỷ lệ tín dụng với lãi suất hợp lý để các quỹ này cho vay ra.

Tiếp theo, liên quan đến vấn đề xử lý tài sản xấu trước khi tái cơ cấu, trong bài tham luận của mình, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính, tiền tệ Quốc gia cho biết: “Chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng xấu đi do tăng trưởng tín dụng nóng, nợ xấu ngân hàng tăng nhanh, đạt 8,5%, cao gấp 3 lần mức bình quân năm 2010”.

Đặt tỷ lệ nợ xấu 8,5% bên cạnh quy mô tổng dư nợ tín dụng tới 2.650 nghìn tỷ đồng, sẽ thấy con số nợ xấu hiện đang rất lớn và muốn tái cơ cấu thì phải có nguồn tiền để xử lý con số này.

Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Phó tổng giám đốc Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam nêu ra hai cách dùng tiền để tái cơ cấu. Một là, dùng tiền ngân sách thông qua Ngân hàng Nhà nước hoặc Bộ Tài chính. Theo ông, giai đoạn 1999 - 2007, có 17 ngân hàng cổ phần bị sáp nhập và giải thể. Để xử lý 17 đơn vị này, Ngân hàng Nhà nước đã chi 1.500 tỷ đồng từ nguồn tiền cung ứng đóng cửa một số ngân hàng và tái cấp vốn cho những ngân hàng thực hiện cơ cấu lại.

Nhưng ở lần này, số tiền cần để tái cơ cấu sẽ lớn hơn rất nhiều và nếu dùng tiền ngân sách chắc chắn không khả thi vì ngân sách đã thâm thủng quá lớn; còn nếu dùng tiền cung ứng cũng không ổn do áp lực lạm phát đang rất cao.

Bởi thế, nên sử dụng cách thứ hai là tái cơ cấu theo nguyên tắc thị trường như một số nước Mỹ, Nhật, Hàn, Canada, Đài Loan… từng làm.

Ông Dũng đưa ra dẫn chứng, trong cuộc khủng hoảng châu Á 1997 tại khu vực châu Á Thái Bình Dương và Hàn Quốc, trong vòng 4 năm (1998 - 2002), các quốc gia ở khu vực này tiến hành cơ cấu hệ thống tài chính, chấp nhận cho loại bỏ, sáp nhập, hợp nhất 838 tổ chức tài chính “có vấn đề” với tổng mức chi tới 126 tỷ USD mặc dù chỉ bỏ tiền túi ra 11 tỷ USD.

Một câu hỏi khác được đặt ra: sau tái cơ cấu, hệ thống ngân hàng nên gút lại bao nhiêu đơn vị?

Theo ông Dũng, số lượng ngân hàng chỉ nên dừng ở con số 15 và chia làm 3 thứ bậc: 4 ngân hàng đứng đầu với mức vốn quy định là 3 tỷ USD, khi tái cơ cấu xong bắt buộc phải có tối thiểu 2 tỷ USD; 6 ngân hàng hạng trung bình có mức vốn tối thiểu 1 tỷ USD và 5 ngân hàng còn lại có mức vốn tối thiểu 500 triệu USD. Nếu cộng dồn thì tổng mức vốn điều lệ của các ngân hàng khoảng 16,5 tỷ USD, xấp xỉ với con số hiện nay.

Đặc biệt, theo ông Thiện, trong một số trường hợp, nhà nước có thể mua cổ phần để nắm quyền kiểm soát, không nên để xảy ra tình trạng “sở hữu chéo”, tức là các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục nắm cổ phần tại các ngân hàng “bệnh tật” cần cơ cấu, điều đó dễ bị che khuất bản chất bên trong.

* Tính đến cuối tháng 10/2011, hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại Nhà nước (đã cổ phần hóa Vietcombank và VietinBank); 37 ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó có 13 ngân hàng thương mại chuyển đổi từ mô hình nông thôn lên thành thị; 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh; 18 công ty tài chính; 12 công ty cho thuê tài chính; 1 quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.


NGUYỄN HOÀI
Nguồn: Vn Economy, ngày 21/11/2011, truy cập từ http://vneconomy.vn/20111121023554860P0C6/can-bao-nhieu-tien-de-tai-co-cau-ngan-hang.htm.

10 ngân hàng yếu nhất châu Âu

Với kết quả từ cuộc kiểm tra năng lực tài chính (stress test) ngân hàng gần nhất của nhà chức trách châu Âu và nghiên cứu do ngân hàng Thụy Sỹ Credit Suisse thực hiện, tạp chí Forbes đưa ra danh sách 10 nhà băng đối mặt những thách thức lớn nhất về vốn của châu lục này.
Xếp hạng dựa trên số vốn còn thiếu của các ngân hàng và tỷ lệ vốn nòng cốt trên tài sản rủi ro, với ngưỡng từ 9% trở lên được coi là an toàn. Mức 9% này là mức mà các nhà lãnh đạo châu Âu muốn tất cả các ngân hàng trong khu vực sẽ đạt được vào cuối năm 2012.

Đáng chú ý, những ngân hàng được coi là yếu nhất châu Âu hiện nay lại cũng chính là những nhà băng “sừng sỏ” hàng đầu ở khu vực này.

1. Royal Bank of Scotland

Trụ sở: Edinburgh, Anh
Số vốn thiếu: 19,42 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 6,2%

2. Deutsche Bank

Trụ sở: Frankfurt, Đức
Số vốn thiếu: 13,58 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 6,3%

3. BNP Paribas

Trụ sở: Paris, Pháp
Số vốn thiếu: 13,55 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 7,1%

4. Societe Generale

Trụ sở: Paris, Pháp
Số vốn thiếu: 12,83 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 6,1%

5. Barclays

Trụ sở: London, Anh
Số vốn thiếu: 12,78 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 7,1%

6. UniCredit

Trụ sở: Rome, Italy
Số vốn thiếu: 11,96 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 6,7%

7. BPCE

Trụ sở: Paris, Pháp
Số vốn thiếu: 12,61 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 6,5%

8. Commerzbank

Trụ sở: Frankfurt, Đức
Số vốn thiếu: 11,32 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 5,4%

9. Bankia

Trụ sở: Madrid, Tây Ban Nha
Số vốn thiếu: 7,75 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: 5,4%

10. National Bank of Greece

Trụ sở: Athens, Hy Lạp
Số vốn thiếu: 7,58 tỷ Euro
Tỷ lệ vốn nòng cốt/tài sản rủi ro: âm 0,8%
AN HUY
Nguồn: Vn Economy, ngày 04/11/2011, truy cập từ http://vneconomy.vn/2011110309575231P0C99/10-ngan-hang-yeu-nhat-chau-au.htm.

Ngân hàng cứ nhỏ là yếu?

picture

Để tránh vạ lây cho những ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động an toàn, Ngân hàng Nhà nước nên công bố chất lượng hoạt động các ngân hàng để người dân có thêm cơ sở lựa chọn.
Khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cùng mức 14%/năm, xuất hiện tình trạng người dân rút tiền ở một số ngân hàng nhỏ gửi ngân hàng lớn với quan niệm: cùng một giá thì vào “khách sạn 5 sao” sẽ yên tâm hơn.

Ngân hàng nhỏ bức xúc

Một số thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cho biết, kể từ khi Ngân hàng Nhà nước thiết lập lại trần lãi suất 14%/năm, tốc độ tăng tiền gửi ở không ít ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng nhỏ bị giảm. Cùng đó, một lượng tiền, chủ yếu tiền gửi ở nhóm dân cư được rút ra khỏi ngân hàng khá bất thường.

Mặc dù không ở trong cảnh ngộ trên, nhưng một số ngân hàng nhỏ bắt đầu lên tiếng về thực tế mù mờ này.

Theo Tổng giám đốc KienlongBank Trương Hoàng Lương, gần đây, gắn với chủ trương tái cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó có ngành ngân hàng, nhiều thông tin rùm beng rằng, ngân hàng nhỏ là yếu hoặc sắp mất thanh khoản nên cần sáp nhập và tái cơ cấu. Điều này khiến người gửi tiền không muốn rút cũng phải rút.

Ông Lương nói: “Tái cơ cấu là làm cho thị trường lành mạnh. Ngân hàng nhỏ nếu hoạt động tốt thì phải tạo điều kiện để họ phát triển; còn những ngân hàng nào không đứng vững được, làm bậy bạ thì mới phải bắt buộc sáp nhập hay mua lại, chứ sao cứ vơ đũa cả nắm rằng cứ nhỏ là yếu?”.

Tổng giám đốc KienlongBank dẫn chứng, ở những đợt sốt thanh khoản trước đây, trong khi một số ngân hàng lớn cũng dính “trọng bệnh” này thì KienlongBank vẫn duy trì tốt cân đối nguồn, tài sản “Có” vẫn giữ được sự lành mạnh cần thiết, thậm chí còn cho vay liên ngân hàng. Tính đến nay, tổng huy động vốn đạt 11.119 tỷ đồng trong khi dư nợ chỉ 7.526 tỷ đồng tỷ đồng.

Ngân hàng này cũng dành 60% tỷ trọng tín dụng cho “tam nông” trong khi cho vay chứng khoán chỉ vài chục tỷ đồng, cho vay bất động sản hơn 200 tỷ đồng. Nợ xấu ở mức 1,66%/tổng dư nợ, thấp hơn mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Trong 17 năm hoạt động, KienlongBank chưa bao giờ vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước.

Có cùng suy nghĩ với ông Lương, ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietPostBank cho biết, trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nguồn tái cấp vốn ở mức thấp, lãi suất tái cấp vốn nâng từ 14%/năm lên 15%/năm. Chỉ khi nào thị trường quá căng, nhà điều hành mới “nhả” một ít. “Đợt thanh khoản căng thẳng vừa qua không loại trừ một số đại gia gửi tiền cá nhân đã rút về mua vàng và USD do đồn đại thiếu chính xác về thanh khoản kém ở một số ngân hàng”.

Theo ông Hưởng, thị trường càng khó khăn, càng dễ kinh doanh nếu thanh khoản vững chắc. “Chúng tôi tuy là ngân hàng nhỏ nhưng cân đối nguồn rất tốt. Đợt này, giao dịch liên ngân hàng không bị ràng buộc đủ thứ như trước nên cho vay tốt hơn. Tiếng là hỗ trợ bạn hàng nhưng lại kiếm ăn tốt”, ông Hưởng khoe.

Quy mô quyết định chất lượng?

Theo ông Nguyễn Việt Anh, Phó tổng giám đốc TienPhongBank, khi thị trường cùng một mặt bằng giá, người dân sẽ chọn ngân hàng an toàn để gửi tiền. Điều đó không có gì lạ do xuất phát từ quan niệm: quy mô lớn tạo cảm giác an toàn hơn.

“Nhưng quy mô lớn không có nghĩa là chất lượng dịch vụ tốt, giá cả dịch vụ tốt và đặc biệt không có nghĩa là quản trị rủi ro tốt. Thậm chí, nếu quy mô lớn nhưng vượt quá khả năng quản trị của các nhà quản lý ngân hàng thì còn tệ hơn là quy mô nhỏ nhưng thận trọng”, ông Anh phân tích.

Theo ông, ngân hàng nhỏ thường linh hoạt và năng động hơn, dễ dàng thích ứng với tình hình thị trường. Cơ cấu tài sản của ngân hàng nhỏ cũng rõ ràng mạch lạc hơn, dễ dàng quản trị rủi ro hơn. Hơn nữa, ngân hàng nhỏ đang đứng trước áp lực cạnh tranh lớn nên phải tạo dựng và gìn giữ uy tín và luôn đặt lợi ích khách hàng lên hàng đầu trong mọi trường hợp.

Tuy nhiên, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước chưa bao giờ công bố xếp hạng mức độ tín nhiệm hay chất lượng thanh khoản các tổ chức tín dụng, nếu đặt mình vào vị thế người gửi tiền, thật khó có thể làm khác quan niệm “to là an toàn”.

Vậy thì, người dân nên dựa vào những tiêu chí nào để vừa an toàn, vừa sinh lời?

Ông Anh cho rằng, khả năng đảm bảo thanh khoản của ngân hàng luôn được Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng nhiều quy định và biện pháp, thông tin này hiếm khi được công bố. Vì thế, sẽ rất khó để thấy sự khác biệt, nếu nhìn vào thanh khoản. Bên cạnh đó, tiền gửi toàn thị trường đang chung một giá vốn nên lãi suất không đặt ra nữa.

Vì thế, các yếu tố khác như: sự tiện lợi, sản phẩm năng động, khả năng tạo lập và giữ khách hàng trung thành sẽ được người dân quan tâm.

Cũng theo lãnh đạo một số ngân hàng khác, muốn tồn tại, các ngân hàng phải xác định rõ phân khúc thị trường và không nên hoạt động chồng lấn lên phân khúc của nhau. Đơn cử, nếu huy động vốn ở Kiên Giang và khu vực đồng bằng sông Cửu Long thì KienlongBank mặc dù quy mô không lớn so với Agribank nhưng lại là đối thủ đáng gờm của bất kỳ ngân hàng nào.

Hoặc, trong lĩnh vực ngân hàng điện tử, gắn với nền tảng công nghệ thì TienPhongBank lại có những ưu thế với những dòng sản phẩm: tiết kiệm điện tử thông qua cú “kích chuột” như dịch vụ thẻ, thanh toán hóa đơn, nạp tiền điện thoại, nộp thuế trực tuyến, mobile banking...

Như vậy, khi chọn ngân hàng gửi tiền, ngoài việc dựa vào tiêu chí quy mô, thương hiệu, có lẽ người dân cũng cần tìm hiểu thêm về khả năng cung cấp dịch vụ, sản phẩm, xu hướng phát triển bền vững.

Thứ hai, để tránh vạ lây cho những ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động an toàn, Ngân hàng Nhà nước nên công bố chất lượng hoạt động các ngân hàng để người dân có thêm cơ sở lựa chọn.

Hiện có khoảng 50 ngân hàng thương mại trong nước nhưng số ngân hàng nội lên sàn niêm yết chứng khoán chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì thế, Ngân hàng Nhà nước cũng cần có lộ trình để thúc đẩy các ngân hàng thương mại lên sàn chứng khoán càng sớm càng tốt. Nhờ đó, thông tin về chất lượng hoạt động sẽ được minh bạch, người gửi tiền có cơ sở lựa chọn ngân hàng tốt, đồng thời tránh được tình trạng “xập xí, xập ngầu” khi đánh giá về chất lượng ngân hàng như hiện nay.

  
NGUYỄN HOÀI

Nguồn: Vn Economy, ngày 03/11/2011, truy cập từ http://vneconomy.vn/201111030740934P0C6/ngan-hang-cu-nho-la-yeu.htm.

Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: “Thu dọn chiến trường”

Ảnh: THANH TAO.
(TBKTSG) - Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần đã gọi cuộc cải tổ ngành ngân hàng mà Ngân hàng Nhà nước đang chuẩn bị bằng cụm từ “thu dọn chiến trường”.
 

Bức tranh thực về hệ thống ngân hàng

Chiến trường ở đây, theo ông, chính là hệ thống ngân hàng với hơn 100 ngân hàng thương mại, đa số là ngân hàng nhỏ, dịch vụ đều na ná như nhau, quản trị yếu và cạnh tranh khốc liệt trên miếng bánh hạn hẹp là khoảng 12% dân số thu nhập trung bình trở lên.
“Ngay hẻm nhà tôi, có tới năm phòng giao dịch của năm ngân hàng khác nhau mà dịch vụ không có gì khác biệt. Tôi đi qua tất cả các đô thị lớn đều có khoảng 50 ngân hàng ở trung tâm nhưng từ huyện xuống xã thì tìm mỏi mắt chỉ có 1-2 phòng giao dịch nhỏ”, một lãnh đạo ngân hàng nói.
Một phần lớn dân cư, đặc biệt ở nông thôn, không biết đến dịch vụ ngân hàng. Tái cơ cấu là phải trả lại cho ngân hàng chức năng hỗ trợ năng lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp thay vì ngân hàng là nơi ban phát tín dụng cho họ hay chỉ là nơi trung gian để hớt váng kiếm lợi của các giao dịch.
Trong giai đoạn 2007-2008, hơn chục ngân hàng nông thôn được phép nâng cấp lên ngân hàng đô thị và một vài ngân hàng mới ra đời do phong trào đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước bùng nổ và giá cổ phiếu ngân hàng thời điểm đó quá hấp dẫn. Việc có quá nhiều ngân hàng không phải là điều xấu, vấn đề chính là các ngân hàng hoạt động không hiệu quả. Chính tình hình nợ xấu của các ngân hàng ngày càng trầm trọng khiến cho yêu cầu tái cấu trúc ngân hàng không thể trì hoãn hơn nữa.
Tái cơ cấu là phải trả lại cho ngân hàng chức năng hỗ trợ năng lực tài chính cho người dân và doanh nghiệp thay vì ngân hàng là nơi ban phát tín dụng cho họ hay chỉ là nơi trung gian để hớt váng kiếm lợi của các giao dịch.


Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, đặt câu hỏi: thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về nợ xấu của toàn hệ thống là hơn 3,1%, nghe chưa có gì ghê gớm lắm, song con số đó đúng hay không?
Một số thống kê khác cho rằng nợ xấu trung bình của hệ thống khoảng 5%, tỷ lệ này ở một số công ty tài chính lớn hơn nhiều. Agribank công bố nợ xấu của họ hơn 6,6%. (Xem thêm bài “Nợ xấu, xấu đến đâu?”, TBKTSG 6-10-2011).
Ba phương án đang được tính đến
Khi nói về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, điều rõ nét nhất được vạch ra đến thời điểm này là cuộc thu xếp lại khối ngân hàng thương mại cổ phần trong nước, với 38 ngân hàng, mà theo cơ quan quản lý, có khoản chục ngân hàng trong số đó sẽ là đích nhắm đầu tiên. NHNN đang hoàn tất chiến lược với cơ chế “ai không chịu được nhiệt sẽ tự loại mình ra khỏi cuộc chơi”.
Vài con số về hệ thống ngân hàng Việt Nam (tính đến cuối năm 2010)
- Ngân hàng Phát triển: 1
- Ngân hàng Chính sách xã hội: 1
- NHTM nhà nước và có cổ phần chi phối của nhà nước: 5
- NHTM cổ phần: 37
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 50
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: 5
- Ngân hàng liên doanh: 5
- Công ty tài chính: 18
- Công ty cho thuê tài chính:12
- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 1
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: hơn 1.000
- Tổ chức tài chính vi mô: 1
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
“Nhiệt” ở đây sẽ là hàng loạt các biện pháp: từ những công cụ cơ bản như lãi suất, các tỷ lệ về an toàn vốn, công cụ đo sự dẻo dai về tính thanh khoản, cơ chế cho vay vốn và các rào cản kỹ thuật. Các biện pháp không mới nhưng sẽ “làm ngay, làm chặt chẽ và cương quyết”, theo một nguồn tin từ NHNN. Có ba cách đang được đặt lên bàn cơ quan quản lý.
Thứ nhất, siết chặt các biện pháp kỹ thuật bằng các công cụ sẵn có của NHNN. Trần lãi suất huy động và các mức lãi suất điều hành theo kiểu “hà khắc” hơn như ta đang thấy là một ví dụ. Dư nợ tín dụng cho năm 2012 có thể sẽ không cào bằng mà tỷ lệ sẽ khác nhau ở từng ngân hàng, chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ là một yêu cầu bắt buộc với các ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng nào không đáp ứng được các yêu cầu này có thể sẽ bị rút giấy phép.
Việc làm ngay là ngân hàng thương mại sẽ làm rõ nợ xấu của từng ngân hàng là bao nhiêu, sau đó sẽ tìm cách làm sạch bảng cân đối tài sản bằng dự phòng rủi ro của chính các Ngân hàng thương mại hoặc thậm chí bằng ngân sách. Mặt khác, về trung hạn, NHNN có thể yêu cầu các ngân hàng có nhiều tài sản xấu tăng vốn điều lệ để sử dụng vốn này bù đắp các khoản thâm hụt trong quá trình xử lý nợ xấu, sử dụng dự phòng rủi ro hay để lại toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng để bù đắp nợ xấu. Ngoài ra, có thể đề nghị các ngân hàng này tham gia thị trường mua lại.
Thứ hai, NHNN ưu tiên số một là khuyến khích các ngân hàng tự nguyện mua bán cổ phần và sáp nhập với nhau. Song nếu ngân hàng nào không chịu, NHNN sẽ đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, mà khi rơi vào diện này coi như ngân hàng ngừng hoạt động phần lớn vì mất quyền tự chủ.
Các ngân hàng quốc doanh đang được cho là ứng cử viên có khả năng sẽ mua lại các ngân hàng nhỏ nhưng sự hạn chế về tiềm lực tài chính, thể hiện qua hệ số an toàn vốn (CAR) không cao. Theo Công ty Chứng khoán HSC, việc mua bán sáp nhập các ngân hàng yếu sẽ cần nguồn lực từ bên ngoài hoặc từ Chính phủ. Việc huy động này có thể thông qua tăng vốn hoặc phát hành trái phiếu dài hạn (trái phiếu kỳ hạn từ năm năm trở lên được tính vào vốn cấp 2). Và các đối tượng mua trái phiếu có lẽ sẽ là các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức trong nước.
Lựa chọn cuối cùng được tính đến, NHNN sẽ mua lại một phần ngân hàng thương mại, trở thành nhà đầu tư nhà nước và thoái vốn khi thuận lợi. Luật NHNN vừa sửa đổi đã bật đèn xanh cho việc NHNN trở thành nhà đầu tư và có quyền mua cổ phần của một số tổ chức tín dụng, đó là cơ sở pháp lý.

Bốn nguyên tắc cơ bản để tái cơ cấu ngân hàng
Tuần trước, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra bốn quan điểm và nguyên tắc cơ bản đối với quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.
- Thứ nhất, phát triển một hệ thống ngân hàng đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế về dịch vụ ngân hàng từ thành thị tới nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Về quy mô, hệ thống ngân hàng có các ngân hàng lớn đủ sức cạnh tranh trong khu vực; có các ngân hàng lớn làm trụ cột trong hệ thống ngân hàng; có những ngân hàng nhỏ và vừa, tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoạt động có hiệu quả trong một phân khúc thị trường thích hợp và đáp ứng nhu cầu dịch vụ ngân hàng mỗi tầng lớp trong xã hội.

- Thứ hai, đảm bảo nâng cao tính an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
- Thứ ba, việc sáp nhập, hợp nhất ngân hàng theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan.
- Thứ tư, tái cơ cấu ngân hàng được triển khai dưới nhiều hình thức, biện pháp và theo lộ trình thích hợp. Căn cứ vào đặc điểm của ngân hàng cụ thể sẽ có hình thức và biện pháp hợp lý.
 
Hồng Phúc

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 29/10/2011, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/64298/%e2%80%9cThu-don-chien-truong%e2%80%9d.html.