Trách nhiệm giải trình (accountability) là sự thừa nhận về trách nhiệm đối với mọi hành động, mọi sản phẩm, mọi quyết định hay chính sách mà chúng ta đưa ra trong việc lãnh đạo, quản lý, và thực hiện công việc. Khả năng giải trình trách nhiệm được hiểu như năng lực thực hiện nghĩa vụ thông tin đầy đủ, năng lực biện minh cho hành động của mình trong quá khứ hoặc tương lai, và chịu sự trừng phạt nếu như hành động ấy vi phạm các quy tắc đạo đức và pháp lý(1).
Giải trình trách nhiệm với ai, và về điều gì?
Trách nhiệm giải trình là nghĩa vụ tất yếu của tất cả mọi cá nhân và tổ chức với tư cách là những thành viên có liên đới với nhau. Ở Việt Nam, khi nói tới trách nhiệm giải trình, người ta chủ yếu hiểu là trách nhiệm báo cáo với cơ quan chủ quản và với các tổ chức nhà nước có chức năng quản lý trường đại học, chẳng hạn như Bộ Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương, cơ quan thuế... Tuy nhiên, đó chỉ là một bộ phận của các bên liên quan mà nhà trường cần phải giải trình trách nhiệm.
Câu trả lời cho câu hỏi “trường đại học cần phải giải trình trách nhiệm với ai?” phụ thuộc vào vấn đề bản chất của trường đại học và sứ mạng chủ yếu của nó là gì. Các trường đại học công với tư cách là tổ chức nhà nước và hoạt động bằng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, có nghĩa vụ giải trình không chỉ trước các tổ chức quản lý mà Nhà nước lập ra, mà cả trước công chúng, tức là với những người đã đóng thuế để nuôi nhà trường.
Trường đại học công có nghĩa vụ chứng minh họ đã sử dụng tiền thuế của người dân một cách hiệu quả và tạo ra được những kết quả xứng đáng cho sự phát triển của xã hội và nâng cao đời sống của người dân. Còn các trường đại học tư, nhất là những trường vì lợi nhuận, phải thực hiện trách nhiệm giải trình trước hết là với sinh viên và cha mẹ họ, những người đã trả tiền học và có quyền đòi hỏi một chất lượng dịch vụ tương xứng.
Tuy nhiên, ở đây có một sự khác biệt cơ bản giữa hàng hóa giáo dục với những hàng hóa khác. Không như những vật phẩm tiêu dùng, kiến thức và kỹ năng không phải là thứ có thể cứ bỏ tiền là mua được.
Vì lẽ đó, một “bên liên quan” có ý nghĩa tối quan trọng mà nhà trường cần phải thực hiện trách nhiệm giải trình là các tổ chức kiểm định chất lượng. Các cơ quan kiểm định chất lượng là những tổ chức chuyên môn có chức năng đánh giá quá trình và chất lượng hoạt động của nhà trường dựa trên những tiêu chí đảm bảo cho việc thực hiện những sứ mạng mà nhà trường đã nêu ra.
Giải trình để làm gì và như thế nào?
Mục đích tối hậu của việc thực hiện trách nhiệm giải trình là bảo đảm rằng nhà trường đã và đang duy trì những nguyên tắc đạo đức cơ bản trong việc thực thi công việc của mình. Đó là những nguyên tắc được đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích công, bảo vệ nguồn lực công được sử dụng đúng mục đích, đảm bảo nhà trường thực hiện đúng những gì đã hứa hẹn với người học và xã hội.
Nhà nước với tư cách là đại diện người dân và có bổn phận bảo vệ lợi ích công, có trách nhiệm thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các trường. Tuy vậy, có một ranh giới rất rõ giữa việc đòi hỏi trách nhiệm giải trình của các trường và việc can thiệp vào công việc của nhà trường. Mọi sự can thiệp vào nhà trường, dù dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp, đều đe dọa quá trình sáng tạo và theo đuổi kiến thức, xói mòn sự ưu tú, khả năng đáp ứng và ý nghĩa của nhà trường đối với xã hội.
Bởi lẽ đó, Nhà nước cần lập một khuôn khổ chính sách đòi hỏi các trường phải minh bạch về trách nhiệm giải trình. Chủ trương “ba công khai” của Bộ Giáo dục và Đào tạo chính là một nỗ lực theo hướng đó và cần được củng cố. Cùng với việc công khai về đội ngũ, về nguồn lực, về mức học phí, báo cáo thường niên và kết quả kiểm định cũng phải được công khai trên trang web của các trường, công lập cũng như tư thục. Vai trò tốt nhất của Nhà nước không phải là can thiệp, kiểm soát hay cấp phép; mà là tạo ra một hành lang pháp lý đòi hỏi các trường phải thực hiện trách nhiệm giải trình công khai và thúc đẩy hoạt động của các tổ chức kiểm định độc lập.
Trách nhiệm giải trình và cơ cấu thẩm quyền của đại học ngoài công lập
Trường đại học là một thực thể ngày càng phức tạp với nhiều chức năng đan xen và gắn với nhiều bên liên quan khác nhau, do vậy trách nhiệm giải trình của nhà trường cũng hết sức đa dạng.
Đối với trường công, việc xây dựng hội đồng trường như một cơ quan quyền lực cao nhất có chức năng lãnh đạo nhà trường và giám sát việc thực thi nhiệm vụ của hiệu trưởng là điều rất cần, vì nó bảo đảm cho quyền tự chủ của nhà trường và cùng với đó là trách nhiệm giải trình của bộ máy điều hành. Điều đáng tiếc là xu hướng này đang tiến triển rất chậm ở Việt Nam(2).
Đối với trường ngoài công lập, khó khăn không nằm ở chỗ thiết lập hội đồng trường và xác định thẩm quyền của hội đồng trường, mà là ở chỗ khác. Những bất ổn xảy ra hàng loạt ở các trường ngoài công lập vừa qua, trong đó có những trường trước đây từng được xem là vững mạnh chủ yếu là do đấu tranh quyền lực giữa HĐQT (đại diện cho quyền sở hữu) và bộ máy quản lý (thực thi trách nhiệm điều hành).
Chúng tôi cho rằng trường vì lợi nhuận về bản chất là một doanh nghiệp, do đó cần được đối xử giống như một doanh nghiệp, tức là tôn trọng quyền quyết định của người sở hữu. Nhà đầu tư có tầm nhìn dài hạn sẽ tìm được điểm cân bằng giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, sẽ thuê những người điều hành thực sự am hiểu về giáo dục đại học và biết tạo ra sản phẩm có chất lượng, vì chất lượng chính là lợi thế cạnh tranh và lợi ích sống còn của họ. Tuy nhiên, nhà đầu tư ngắn hạn sẽ muốn thu càng nhiều càng tốt, chi càng ít càng hay, chia lợi càng nhanh càng tốt, và chiến lược đó không thể tạo ra chất lượng và sớm muộn sẽ bị thị trường đào thải. Vấn đề là khi bị đào thải thì họ đã kịp tàn phá xã hội với việc lừa dối người học, bán bằng và làm loạn chuẩn mực. Bởi vậy cần phải có vai trò của kiểm định độc lập để hạn chế xu hướng này.
Còn với trường phi lợi nhuận thuộc sở hữu cộng đồng và cần có những người thực sự bảo vệ cho lợi ích cộng đồng ở trong thành phần của hội đồng quản trị. Tiêu chuẩn lựa chọn hiệu trưởng và quá trình lựa chọn hiệu trưởng phải được nêu công khai.
Trong cả hai trường hợp, Nhà nước phải có vai trò thúc đẩy một cơ cấu thẩm quyền thích hợp với giáo dục đại học nhằm tránh những hoạt động không lành mạnh của các trường ngoài công lập, kể cả vì lợi nhuận lẫn phi lợi nhuận. Vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận bản thân nó không làm cho kết quả hoạt động của nhà trường tốt hơn hay xấu hơn, mà vấn đề nằm trong sứ mạng mà nhà trường đặt ra, cơ cấu thẩm quyền của các trường giúp nó thực hiện được sứ mạng đó, cũng như cơ chế giải trình trách nhiệm trong nội bộ nhà trường và giữa nhà trường với các bên liên quan.
Phạm Thị Ly
(1) Phạm Thị Ly (2012). Tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình: quan hệ giữa nhà nước, nhà trường và xã hội. Tạp chí Phát triển Khoa học - Công nghệ, tập 15, Q1-2012.
(2) Xem bài trả lời phỏng vấn GS. Lâm Quang Thiệp: “Muốn tự chủ ĐH phải có đường lối quản trị đúng”. Tuổi trẻ Cuối tuần 17-8-2014.
|
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014
Trách nhiệm giải trình của trường đại học
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
Học y ở Mỹ: dài lâu và vất vả
TT - Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, trở thành bác sĩ là một con đường rất gian khổ và tốn kém.
Sinh viên Trường ĐH Y Antiqua (AUA) nghe giáo sư giảng bài - Ảnh: AUA med blog
Thông thường các trường y tại Mỹ đòi hỏi sinh viên nộp đơn xin học phải hoàn thành chương trình dự bị (pre-med) tại các trường ĐH. Chương trình dự bị thường kéo dài ba năm, trong đó sinh viên phải học các môn khoa học cơ bản như sinh học, hóa học, hóa học hữu cơ, vật lý học... Sau đó sinh viên phải vượt qua kỳ thi MCAT (Medical College Admission Test) cực kỳ gắt gao mới có thể nộp đơn vào xin học tại các trường y.
Trên nguyên tắc, sinh viên không cần phải có bằng ĐH để nộp đơn xin vào trường y, tuy nhiên đa số sinh viên vào học trường y đều có bằng ĐH bốn năm do học chương trình pre-med song song với ngành học chính ở trường ĐH. Các trường y tại Mỹ đều đặt ra tiêu chuẩn rất cao để nhận sinh viên. Ngoài việc hoàn thành chương trình pre-med và đạt điểm MCAT cao, sinh viên còn phải viết luận văn, có thư giới thiệu từ một khoa chuyên ngành khoa học của trường ĐH họ đã học, và phải trải qua các vòng phỏng vấn ngặt nghèo.
Quá trình học tại trường y kéo dài bốn năm. Trong hai năm đầu, sinh viên dành phần lớn thời gian trong lớp học và phòng thí nghiệm. Đó là những khóa học cơ bản về ngành y.
Sau hai năm sinh viên phải thi USMLE-1 (kỳ thi bằng y tế Mỹ). Trong hai năm sau, sinh viên vẫn đến lớp học nhưng dành nhiều thời gian thực tập tại các bệnh viện, phòng khám.
Đầu năm thứ tư, sinh viên phải bắt đầu đăng ký chương trình nội trú. Cuối năm họ phải thi USMLE-2, kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng chẩn đoán, điều trị, để trở thành bác sĩ đa khoa. Giai đoạn tiếp theo là chương trình nội trú để học chuyên khoa. Chương trình này thường kéo dài ba năm đối với nội khoa, 5-7 năm đối với phẫu thuật và giải phẫu thần kinh. Trong giai đoạn nội trú các bác sĩ mới sẽ thi lấy bằng USMLE-3.
Ở giai đoạn nội trú, các bác sĩ đã được trả lương khoảng 40.000 USD/năm, được tài trợ kinh phí để đi dự các hội nghị y tế. Sau khi lấy bằng USMLE-3, các bác sĩ còn phải trải qua chương trình thực tập chuyên khoa (fellowship). Chương trình này thường kéo dài 1-3 năm. Sau khi hoàn thành chương trình nội trú, họ được công nhận là bác sĩ hành nghề. Tuy nhiên họ vẫn phải vượt qua các kỳ thi viết và vấn đáp về chuyên ngành của họ do các hiệp hội và tổ chức y tế đề ra để được cấp giấy phép hành nghề.
Như vậy, một sinh viên ngành y Mỹ phải học tập ròng rã trong 11-15 năm để trở thành một bác sĩ có giấy phép hành nghề. Do chương trình học rất nặng, các sinh viên hoàn toàn không có thời gian đi làm thêm để bù tiền học phí. Theo Hãng tin Bloomberg, ước tính học phí các trường y ở Mỹ trung bình lên tới 50.000 USD/năm trong năm 2012-2013. Do đó phần lớn sinh viên phải vay tiền từ chính phủ hoặc các tổ chức tư nhân. Trung bình mỗi sinh viên ngành y Mỹ nợ tới 170.000 USD, thậm chí nhiều sinh viên nợ tới 250.000 USD sau khi ra trường.
Tuy nhiên nghề bác sĩ là một nghề được trả lương rất cao tại Mỹ, do đó phần lớn bác sĩ có thể trả hết nợ sinh viên sau vài năm làm việc.
SƠN HÀ (Theo Hiệp hội Y tế Mỹ)
Nguồn: Tuổi Trẻ Online, ngày 20/09/2013 truy cập từ http://tuoitre.vn/Giao-duc/569993/hoc-y-o-my-dai-lau-va-vat-va.html.
Ghi chú: USMLE: United States Medical Licensing Examination.
Điểm số:
Với ngoại lệ của Bước 2 CS
(được báo cáo là Đạt / Rớt), kết quả USMLE được báo cáo trên thang điểm 3 chữ
số.
Điểm đậu tối thiểu hiện hành
như sau:
Bước
1 : 188
Bước 2 CK : Đạt (CK: Clinical Knowledge)
Bước 2
CS :
203 (CS: Clinical Skills)
Bước 3 : 190
Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012
Tản mạn về “chuẩn mực chính tả thống nhất”
Nhân hội thảo quốc gia “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng” do hai trường đại học tại TP.HCM vừa phối hợp tổ chức, xin tản mạn đôi dòng để thấy sự phức tạp trong công việc cần thiết nhưng cũng đầy khó khăn này.
Không có quy tắc chính tả nào đúng tuyệt đối
Những quy tắc cho một chuẩn lý tưởng, ở mức độ thứ nhất là những quy tắc tuyệt đối đúng. Ở mức độ thứ hai, những quy tắc được mọi người chấp nhận cũng là chuẩn lý tưởng.
Những quy tắc cho một chuẩn thực tế là những quy tắc đúng cho hầu hết các trường hợp, trừ một số ít ngoại lệ, và được rất nhiều người chấp nhận. Chuẩn thực tế là chuẩn chấp nhận những biến thể. Một từ thuần Việt, một tên riêng, một từ vay mượn đều có thể có những biến thể được coi là chuẩn. Cái sai quen dùng thì được coi là chuẩn trên thực tế.
Quy tắc chính tả do con người đặt ra. Ngôn ngữ luôn luôn biến đổi, không có cách viết nào là cố định, bất di bất dịch. Bởi vậy, dù có những nguyên tắc chính tả tuân theo một hệ thống khoa học chặt chẽ nào chăng nữa thì với thời gian sẽ luôn luôn tồn tại những hiện tượng ngoại lệ không theo lôgích nào cả. Vậy thì liệu có một hệ thống chính tả tuyệt đối đúng làm chuẩn mực được không?
Có nhiều quy luật chi phối chữ viết. Đôi khi, theo luật này lại mâu thuẫn với luật kia. Thế là sinh ra những ngoại lệ.
Quy tắc bỏ dấu thanh điệu xưa nay căn cứ vào ngữ âm: dấu thanh bỏ ở âm chính của vần. Gặp vần có nguyên âm đôi, không có chữ nào mang âm chính nên lại thêm quy tắc cảm tính “dấu thanh điệu bỏ ở vị trí “cân xứng”, “hài hoà”. Thực ra, đây là luật thẩm mỹ – một quy tắc bất thành văn – trong nhận thức về chữ viết của người Việt: “hình chữ phải đẹp”.
Có những trường hợp, tôn trọng quy tắc này lại vi phạm quy tắc kia. Bỏ dấu theo quy tắc ngữ âm, chúng ta viết hoà bình, loá mắt, trắng xoá, sức khoẻ, huỷ hoại, cổ suý, Thuý Kiều… Ấy vậy nhưng trong thâm tâm, nhiều người thích “hình chữ phải đẹp” nên vẫn viết hòa bình, lóa mắt, trắng xóa, sức khỏe, hủy hoại, cổ súy, Thúy Kiều… Vậy là trong những trường hợp trên, không thể có một chuẩn duy nhất, chúng ta chấp nhận có hai biến thể thực tế đều được coi là chuẩn.
Viết i hay y cũng liên quan tới luật thẩm mỹ. Theo quy định của bộ Giáo dục, phải viết kì lạ, lí luận, vật lí, mĩ vị, Nam Kì. Quy định này trái với cách viết trên báo chí thời xưa: Trong Gia Định báo năm 1881, 1882 hay trong Nông Cổ Mín Đàm năm 1902, chúng ta gặp: ký tên, thơ ký, trong kỳ 15 ngày, xem kỹ, Nam-Kỳ, kỳ nhứt, anh lấy làm kỳ, Lý văn Ngọc, chánh lý, chưởng lý, mạng lý, có lý lắm, làng Bình-hy…
“Hình chữ phải đẹp” trong thâm tâm người Việt là cần cân đối về độ cao giữa các con chữ trong một từ. Đại để là trong một từ, nếu con chữ một phụ âm đứng cạnh i nhô cao lên thì ta viết y nhằm tạo hài hoà trên dưới. Nhiều người thường “phá rào” ở quy định này. Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết lí thì phần dưới chữ hơi bị hẫng. Và người ta viết quản lý, lý luận, lý lịch, vật lý, kỹ thuật, Hoa Kỳ... Những con chữ phụ âm nào cùng độ cao đứng trước i thì có khuynh hướng dùng i: si mê, mị dân, chim ri, rên rỉ, xanh rì, vi phạm, vì sao, vị trí…
Điều thú vị là viết nước Mỹ vẫn theo đúng luật thẩm mỹ: chữ M (viết hoa) nhô cao hơn chữ i nên không viết nước Mĩ.
Viết tên riêng nước ngoài thế nào?
Mỗi quốc gia ghi tên riêng theo hệ chữ viết của mình. Một tên riêng có nhiều biến thể, những biến thể lịch sử và những biến thể do quy luật tiết kiệm nội tại của ngôn ngữ. Nghĩa là không có một tên riêng duy nhất chuẩn.
Tên riêng nước ngoài nhập vào tiếng Việt trước hết qua tiếng Trung Quốc và được viết có dấu nối: Anh-Cát-Lợi, Ba-Lê, Luân-Đôn, Hoa-Thịnh-Đốn… Sau đó những dấu nối được bỏ đi.
Chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp, tiếp đến là tiếng Anh, nhiều tên được chuyển lại theo cách đọc Pháp, rồi cách đọc Anh hoặc trở lại nguyên gốc: Pari, Oa sinh tơn. Nhưng vẫn gọi Luân Đôn vì âm khá gần với âm gốc London.
Do nguyên lý tiết kiệm trong ngôn ngữ, nhiều tên riêng tự động được rút gọn thành những tên một âm tiết nghe rất Việt Nam: Anh, Úc, Ý, Áo, Mỹ… Báo chí thường viết “HLV người Bồ Calisto” chứ ít viết “HLV người Bồ Đào Nha Calisto”.
Phiên âm hay giữ nguyên dạng?
Mỗi quốc gia ghi tên riêng theo hệ chữ viết của mình. Một tên riêng có nhiều biến thể, những biến thể lịch sử và những biến thể do quy luật tiết kiệm nội tại của ngôn ngữ. Nghĩa là không có một tên riêng duy nhất chuẩn.
|
Theo quan điểm phiên âm, sẽ gặp nhiều trở ngại. Có những từ nước ngoài phiên âm thế nào cũng dẫn tới cách đọc không đúng như từ gốc. Trong “hiệp định Genève”, nên phiên âm từ Genève thế nào: Giơ-ne, Giơ-ne-vơ hay Giơ-neo? Theo cách nào thì cũng đọc nhấn mạnh âm tiết đứng cuối ne, vơ, neo, nghe rất kỳ. Tiếng Việt thiếu nhiều vần có trong các thứ tiếng khác nên rất nhiều từ không thể có phiên âm chuẩn.
Nhiều tên riêng chứa đựng ý nghĩa, nếu phiên âm sẽ xoá đi nghĩa có trong nguyên ngữ. Ví dụ: “Khi còn cầm quyền, Tổng thống Pháp Sarkozy và bà Merkel đã hình thành liên minh “Merkozy” (báo Tuổi Trẻ, 8.5.2012). Phiên âm thế nào cái tên “Merkozy” (lấy phần đầu tên nữ Thủ tướng Đức Merkel nhập vào phần cuối tên ông Sarkozy) trong câu trên để nói được rằng đây là liên minh của hai chính khách trên?
Nguyên tắc cơ bản của việc viết tên riêng nước ngoài theo hệ chữ Latinh là phải viết đúng tới mức tối đa theo mặt chữ như nó vốn có.
Vậy còn tên riêng Trung Quốc thì sao? Đầu óc tôn ti của người Việt dẫn tới những mâu thuẫn khi viết tên riêng Trung Quốc. Trước đây bất kể tốt xấu, cao thấp, cứ tên riêng Trung Quốc là được phiên âm theo cách đọc Hán Việt: Bắc Kinh, Khổng Tử, Tôn Trung Sơn, “cầu thủ bóng bàn có quái chiêu Trương Nhiếp Lâm”… Trong sâu thẳm tâm thức, người Việt cảm nhận sự gần gũi thân thuộc khi đọc một tên Hán – Việt. Trong vòng mươi lăm năm gần đây, theo thông lệ quốc tế, tên riêng của người Trung Quốc hạng “bình dân” dần dần được viết bằng chữ Latinh và phiên theo âm Bắc Kinh. Tên của những nhà vô địch bóng bàn thế giới đã được viết là Kum Pu Ru, Wang Hao chứ không còn mấy ai viết là Khổng Lệnh Huy hay Quang Hạo. Đó là sự hội nhập quốc tế tích cực. Tuy nhiên, với đầu óc tôn ti người Việt vẫn gọi những người đứng đầu Trung Quốc theo tên Hán – Việt: Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình… Vậy là thiếu nhất quán. Hai tên này nên phiên là Hú Jǐntāo, Xí Jìnpíng.
GS.TS Nguyễn Đức Dân
Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online,
ngày 27/12/2012, truy cập từ http://sgtt.vn/Khoa-giao/173692/Tan-man-ve-“chuan-muc-chinh-ta-thong-nhat”.html.
Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012
Bằng một đằng, chuyên môn một nẻo
TT - Có ít nhất hai trưởng khoa tiếng Anh của hai trường ĐH lớn tại TP.HCM đều không phải tiến sĩ chuyên ngành tiếng Anh mà là tiến sĩ ngôn ngữ học so sánh.
Có khoa tiếng Anh hầu như không ai là tiến sĩ đúng chuyên ngành. Để có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, họ bèn... đi học ngôn ngữ học so sánh.
TS Vũ Thị Phương Anh - phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng và hỗ trợ chất lượng giáo dục thuộc Hiệp hội Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập - dẫn chứng như trên về thực trạng nhiều giảng viên có bằng cấp... chẳng dính dáng đến chuyên môn giảng dạy. Thực trạng bằng cấp một đằng, chuyên môn một nẻo này được nhiều chuyên gia nhìn nhận “đã tồn tại từ lâu và hiện rất phổ biến”.
Thạc sĩ kinh doanh dạy... thiết kế web
"Khối ngoại ngữ thì học ngôn ngữ học so sánh như là lối thoát cho những người không lấy được bằng thạc sĩ, tiến sĩ đúng chuyên môn. Còn quản lý giáo dục là lối thoát cho những người phó trưởng khoa lấy bằng thạc sĩ, tiến sĩ rồi làm trưởng khoa, phó hiệu trưởng, hiệu trưởng... Theo quan sát của tôi, vấn đề này rất phổ biến"
TS VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
|
Ngoài ra, hưởng ứng quy định “ba công khai” của Bộ GD-ĐT, nhiều trường ĐH đã công khai đội ngũ giảng viên của trường trên trang thông tin điện tử. Không khó để tìm thấy giảng viên có bằng thạc sĩ ngành này nhưng giảng dạy ở ngành kia. Đơn cử trường ĐH T ghi rõ giảng viên T.Đ.H.T. (khoa công nghệ thông tin), thạc sĩ quản trị kinh doanh, nhưng chuyên ngành giảng dạy là... tin học lập trình VB.NET. Trong học kỳ 1 năm học này, thạc sĩ T.Đ.H.T. được xếp thời khóa biểu giảng dạy môn tin học kế toán. Tương tự, thạc sĩ quản trị kinh doanh D.Đ.V. cũng được ghi chú chuyên môn giảng dạy là thiết kế website...
TS Kiều Xuân Hùng - phó hiệu trưởng Trường ĐH Kỹ thuật công nghệ TP.HCM - cho biết: “Những năm gần đây, trường có nhiều giảng viên là cử nhân công nghệ thông tin, công nghệ môi trường, xây dựng... đi học và lấy bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, hiện trường đang chuẩn hóa, siết chặt lại chuyên môn của đội ngũ giảng viên nên chỉ tuyển dụng những người có bằng thạc sĩ đúng với chuyên môn từ ĐH. Song song đó, trường hợp thạc sĩ trái ngành từ trước trường khuyến khích đi học lại thạc sĩ đúng chuyên môn mới được đứng lớp và tính giờ giảng theo trình độ thạc sĩ”.
Tương tự, trưởng phòng đào tạo một trường ĐH ngoài công lập thừa nhận ở trường hiện có khoảng 10 giảng viên có bằng thạc sĩ trái chuyên môn. Một người công tác lâu năm trong lĩnh vực giáo dục (đề nghị không nêu tên) nhận định: “Chưa có thống kê đầy đủ nhưng ước tính số giảng viên có bằng thạc sĩ, tiến sĩ trái với chuyên môn đang đứng lớp tại các trường ĐH, CĐ hiện chiếm khoảng 20%. Thực tế này dẫn đến nhiều giảng viên bằng cấp cao nhưng chuyên môn giới hạn”.
Kẽ hở trong quy định
Theo một số chuyên gia giáo dục, những ngành như quản lý giáo dục, ngôn ngữ học so sánh, quản trị kinh doanh... lâu nay luôn là lối thoát để nhiều giảng viên “củng cố” bằng thạc sĩ, tiến sĩ của mình theo quy định để giảng dạy, quản lý. TS Vũ Thị Phương Anh phân tích: “Giảng viên chọn học trái ngành là bởi dễ học. Những ngành họ chọn đa số là ngành xã hội, nhân văn, kinh tế, quản lý giáo dục... bởi học cao học những ngành này học viên có thể tự làm bài tập ở nhà, thậm chí có thể nhờ người khác làm thay. Những giảng viên này vẫn đứng lớp được vì chỉ nhắc lại kiến thức trong sách vở chứ nghiên cứu khoa học rất yếu. Thành ra số thạc sĩ, tiến sĩ cứ tăng lên trong khi chất lượng giáo dục đi xuống”.
Tương tự, PGS.TS Phạm Xuân Hậu (Viện nghiên cứu giáo dục - Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nhìn nhận “phong trào đi học trái ngành hiện rất nhiều, rất phổ biến” bởi luật không quy định người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ đúng chuyên môn mới được giảng dạy. TS Hậu nói: “Khá nhiều người ở chuyên môn học lên của mình có những tiêu chí họ không đáp ứng được. Đặc biệt là những ngành khoa học cơ bản, các ngành kỹ thuật học lên cao đòi hỏi phải tốn công sức, tiền bạc. Trong khi đó, chỉ cần học chuyển đổi vài môn là có thể học ở ngành khác đơn giản hơn. Do đó đang tồn tại một thực trạng kiểu như có cử nhân tiếng Anh học thạc sĩ quản lý giáo dục và hưởng lương theo giờ giảng tiếng Anh của thạc sĩ”. TS Nguyễn Văn Nam - Trường ĐH Lạc Hồng - thừa nhận để có bằng thạc sĩ, tiến sĩ theo quy định, nhiều giảng viên sẵn sàng đi đường tắt là học trái ngành.
Để giải quyết vấn đề, theo TS Vũ Thị Phương Anh, Luật giáo dục ĐH cần quy định rõ người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ phải đúng chuyên môn mới đủ điều kiện giảng dạy.
HÀ BÌNH
Luật chỉ quy định chuẩn bằng cấp
Luật giáo dục ĐH ban hành tháng 6-2012 quy định “...trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ ĐH là từ thạc sĩ trở lên...”. Trước đó, điều lệ trường ĐH do Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2010 cũng quy định chuẩn giảng viên như sau: “...Có bằng thạc sĩ trở lên đối với giảng viên giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo ĐH; có bằng tiến sĩ đối với giảng viên giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ”.
Theo nhiều chuyên gia giáo dục, chính việc chỉ quy định chuẩn bằng cấp mà không quy định phải đúng chuyên môn mới được giảng dạy nên nhiều giảng viên đã “tận dụng” kẽ hở này để “chuẩn hóa” bằng cấp ở ngành dễ lấy bằng hơn.
|
Nguồn: Báo Tuổi Trẻ Online, ngày 18/09/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Giao-duc/511964/Bang-mot-dang-chuyen-mon-mot-neo.html.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 6: Vinh quy bái tổ
TT - Bài thi đình được vua chấm xong, khoa thi đã chọn được người đỗ tiến sĩ để niêm yết bảng vàng. Triều đình sẽ cử hành nghi lễ trang trọng xướng danh tiến sĩ tân khoa và ban yến. Sau đó, nhà vua sẽ ban ân tứ để tiến sĩ tân khoa vinh quy bái tổ.
| Một đám rước vinh quy bái tổ - Ảnh tư liệu |
Truyền lô và ban yến
Truyền lô là thay mặt nhà vua xướng danh những người đỗ tiến sĩ. Lễ truyền lô khởi đầu từ khoa thi đình đầu tiên của triều Nguyễn (1822), được tổ chức ở điện Thái Hòa rất long trọng (về sau có lúc truyền lô ở Ngọ Môn, là hai nơi trang trọng nhất). Vào lúc canh năm (khoảng rạng sáng), súng lệnh nổ vang rền, một tấm cờ vàng được treo lên, điện Thái Hòa thiết lễ đại triều. Các thân công và quan lại mặc lễ phục đại triều đứng chờ.
Đến giờ lễ, vua ngự ra điện Thái Hòa. Các quan lại triều đình cùng các quan giám thí (coi thi), độc quyển (chấm thi) và các viên chức trông coi việc thi sẽ cùng hành lễ theo đúng nghi thức đại triều, xong trở về quỳ ở gian thứ nhất bên trái điện tâu xin nhà vua cho truyền lô. Sau khi nhận được chỉ thị của vua, quan khâm mạng rập đầu đứng lên, đi đến dưới điện xướng to: truyền lô! Bấy giờ quan truyền lô đến hoàng án mang danh sách trúng tuyển xuống. Trước đó, các quan giám thí, độc quyển đã dẫn các tân tiến sĩ vào Văn Công thự lãnh mỗi một người một bộ áo mũ, rồi đội mũ và mặc áo đứng chờ. Quan bộ lễ dẫn họ đến sân điện, xếp hàng quỳ quay mặt về hướng điện.
Quan truyền lô cầm danh sách tân tiến sĩ rồi lần lượt xướng danh theo thứ tự. Đọc xong giao cho bộ lễ tiếp nhận. Các tân tiến sĩ làm lễ năm lạy. Thị vệ đại thần đến trên thềm điện quỳ tâu xin vua cho niêm yết bảng. Bảng vàng được đặt lên vân bàn (mâm vẽ mây), quan hộ bảng dẫn thị vệ quân lính với đầy đủ nghi trượng tán lọng, cử hành nhã nhạc, rồi mang ra cửa Hữu Đoan, sau đó gánh bảng vàng đến Phu Văn Lâu. Bảng vàng niêm yết ở đây ba ngày, sau đó giao cho Trường Quốc Tử Giám lưu trữ.
Sau lễ truyền lô là đến phần ban yến (đãi tiệc) cho các tân tiến sĩ. Khoa thi tiến sĩ đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ ba (1822), yến tiệc được mở tại công đường bộ lễ.
Sau khi dùng tiệc xong, các tân tiến sĩ được nhận phẩm vật ban thưởng, thường là trâm hoa (hoa để cài) nhưng chia loại: vàng, bạc, lụa màu. Yến tiệc cũng như phẩm vật này chỉ mang tính tượng trưng, vì người tài thì cần sự đề cao danh tiếng hơn là vật chất ban cấp.
| Những người đỗ đạt được dự yến tiệc do vua ban - Ảnh tư liệu |
Ân tứ vinh quy
Theo Khâm định Đại Nam Hội điểu sự lệ, từ khoa thi tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn (1822) đã có lệ định việc vinh quy của tân tiến sĩ, nhằm thể hiện sự trân trọng nhân tài và học vấn của triều đình. Việc vinh danh đầu tiên cho các tân tiến sĩ là cho xem hoa tại vườn ngự uyển và cưỡi ngựa dạo quanh kinh thành.
Xong việc ngắm hoa, các tân tiến sĩ lại được cấp một lọng đen, một hồ lô đen, một con ngựa kèm theo bốn lính hầu quân phục tề chỉnh. Tiếp đó, quan kinh dẫn các tân tiến sĩ cưỡi ngựa ra cửa chính đông đi ngắm phố phường xung quanh kinh thành. Xong việc trở về thì phải trả lại ngựa. Hôm sau, quan kinh lại dẫn các tân tiến sĩ vào Văn Minh điện để dâng biểu tạ ân và để vua hỏi han các tân tiến sĩ. Xong xuôi, quan bộ lễ sẽ chọn ngày tốt để các tân tiến sĩ làm lễ ở Văn Miếu.
Tân tiến sĩ được ban cấp cờ có thêu học vị đã đạt được trong khoa thi và tấm biển màu đỏ một mặt khắc hàng chữ ân tứ vinh quy, mặt kia khắc tên tuổi thứ hạng đỗ đạt. Đồng thời, triều đình lệnh cho các quan địa phương cử mười hay hai mươi quân lính binh phục đầy đủ để hộ tống tân tiến sĩ về quê. Vào năm thi tiến sĩ đầu tiên, triều đình cấp năm người phu để hầu tân tiến sĩ về làng vinh quy bái tổ. Về địa phương thì quan chức sở tại phải tổ chức một đám rước long trọng để đón tân tiến sĩ về làng. Đám rước tân tiến sĩ đi đầu có hai người cầm biển, tiếp đó tân tiến sĩ ngồi trên võng có hai người gánh, sau cùng là một người mang đồ đạc, hai bên có hai hàng lính hộ tống. Về đến làng thì được các vị chức sắc làng và dòng họ cùng dân chúng ra nghênh đón, đưa tiến sĩ về nhà thờ làm lễ bái tạ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Các tiến sĩ được ở địa phương tối đa hai tháng thì phải trở lại kinh đô Huế để chờ bổ dụng.
Người tài ắt phải được sử dụng
Tùy theo phẩm hàm, các tân tiến sĩ sẽ được bổ dụng những chức vụ tương ứng như: tri phủ, thự tri phủ, đồng tri phủ, thự đồng tri phủ... Nhưng quan trọng hơn là việc bổ dụng những người không đỗ kỳ thi hội, đó là những cử nhân với số lượng đông hơn tiến sĩ. Đây là nguồn nhân lực đã đạt chuẩn để bổ dụng vào bộ máy chính quyền cấp địa phương.
Sau khoa thi hội đầu tiên (1822), những thí sinh hỏng nếu xin về đều được chấp thuận, số còn lại nếu có nguyện vọng sẽ được cho vào học ở Trường Quốc Tử Giám để chờ khoa thi sau, hoặc sẽ được bổ dụng sau khi qua được các kỳ sát hạch do triều đình tổ chức. Đến năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vì số đỗ cử nhân còn ít nên cho 20 cử nhân trượt ở thi hội ở lại kinh học chính sự rồi được cử làm chức hành tẩu ở các bộ (giống như công việc chuyên viên ngày nay). Đến năm Tự Đức nguyên niên (1848), một số cử nhân thi trượt tiến sĩ vào học ở Quốc Tử Giám, nếu không muốn thi lại khoa sau thì sau khi học xong ba năm sẽ được cử đi hậu bổ các chức sắc ở các tỉnh (tức chờ bổ dụng, nếu một quan chức nào ngang hàm sắp về hưu hoặc sắp được thăng chức, thì về thực hành chức vụ ấy rồi thay vị trí ấy). Nếu có khuyết chức quan giáo thụ, huấn đạo (các chức quan phụ trách giáo dục của một huyện, châu, phủ...), tri huyện, tri châu... thì sẽ được bổ dụng.
Ngoài ra, từ năm Tự Đức thứ 3 (1850), sau mỗi kỳ thi hội các quan sẽ căn cứ kết quả thi của các cử nhân không đỗ tiến sĩ, lập thành danh sách, trong đó ghi rõ được bao nhiêu điểm để làm nguồn dự phòng, khi bộ máy chính quyền địa phương khuyết người thì bổ dụng...
PHẠM ĐỨC THÀNH DŨNG
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online ngày 07/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500579/Vinh-quy-bai-to.html.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online ngày 07/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500579/Vinh-quy-bai-to.html.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 5: Án nạn trường thi
TT - Quy định về thi cử (trường quy) dưới thời Nguyễn rất nghiêm ngặt đến mức nghiệt ngã, khiến cho không ít sĩ tử tài năng bị mắc nạn. Nhưng ngay cả khi trường quy nghiêm ngặt như thế vẫn cứ xảy ra những trò tiêu cực: quay cóp lẫn nhau, thiên vị cho con quan, thậm chí cũng có trò thi hộ, thi thuê…
Xem ra cái sự thi cử nó đã phức tạp từ thuở nào, có lẽ từ khi người ta bắt đầu đặt ra nó.
| Tượng cụ Đặng Huy Trứ đặt trước từ đường ở làng Thanh Lương (Hương Trà, Thừa Thiên - Huế) - Ảnh: THÁI LỘC |
Xem trong các sách sử của triều Nguyễn mới thấy hầu như kỳ thi nào cũng có thí sinh bị đánh trượt vì phạm trường quy. Trong những vụ án trường thi đó nổi lên hai vụ điển hình, một vụ tai nạn của thí sinh (Đặng Huy Trứ), một vụ vi phạm của giám khảo (Cao Bá Quát). Và cả hai người này sau đó đều là danh sĩ tiếng tăm.
Phạm hai chữ húy, mất cả tiến sĩ lẫn cử nhân
Đó là “vụ án trường quy” xảy ra vào kỳ thi đình năm Đinh Mùi 1847 dưới thời vua Thiệu Trị, liên quan đến cử nhân Đặng Huy Trứ, sinh năm 1825, người làng Thanh Lương (xã Hương Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên - Huế). Chúng tôi tìm lên làng Xuân Hòa, ngoại ô TP Huế để gặp ông Đặng Hưng Thước, hậu duệ của cụ Đặng, tìm hiểu về “vụ án trường quy” mà sách sử đều cho rằng rất điển hình cho chuyện thi cử ngày xưa.
Ông Thước kể sau khi đỗ cử nhân (1843), cụ Đặng đã vào Huế để dự tiếp kỳ thi hội được tổ chức vào mùa xuân Đinh Mùi 1847. Đề thi kinh nghĩa (vòng một) do chính vua Thiệu Trị ra, nhiều thí sinh làm không hết đề, riêng thí sinh Đặng Huy Trứ làm đủ và được giám khảo đánh giá cao. Vào vòng bốn thi văn sách thì giám khảo phê dùng từ khiếm nhã nên đánh hỏng. Vua Thiệu Trị sai dâng quyển lên, xem xong liền phán: “Không nỡ vì một tì vết mà bỏ”, cho Đặng Huy Trứ đỗ hạng trúng cách được vào tiếp thi đình.
Trong sách Đặng Dịch Trai ngôn hành lục, Đặng Huy Trứ đã thuật lại rằng nghe ông đỗ kỳ thi hội, cha ông ở quê nhà rớt nước mắt nói: “Con tôi đức độ ra sao mà được như vậy, chỉ làm cho tôi thêm lo lắng”.
Và nỗi lo của người cha vẫn không giúp tránh được tai họa. Vào thi đình, bài thi kinh nghĩa ca ngợi công đức nhà vua, thí sinh Đặng Huy Trứ dùng hai chữ “phong đô” nhưng quên rằng nó còn xuất hiện trong cụm từ “phong đô địa ngục”. Một vị giám khảo hoài nghi thí sinh có dụng ý xấu, nhưng một giám khảo khác rộng lượng hơn đã châm chước.
Tưởng rằng tai nạn đã qua, nào ngờ đến bài thi văn sách (vòng bốn) thì nạn còn nặng hơn. Trong bài văn của mình, Đặng Huy Trứ đã dùng cụm từ “gia miêu chi hại”, có nghĩa là cỏ năn làm hại lúa tốt, mà không chú ý rằng “gia miêu” đồng âm với “gia miêu ngoại trang” là quê quán của nhà vua (nơi phát tích của nhà Nguyễn ở Thanh Hóa).
Quan giám khảo Hà Duy Phiên cho rằng Đặng Huy Trứ dùng chữ ngông cuồng nên xin vua cho phạt 100 trượng (roi), bắt đi đày ba năm và cấm thi suốt đời. Vua xem xét lại, sau cùng quyết định đánh hỏng và cách tuột cả học vị cử nhân, nhưng cho phép được thi lại. Riêng án phạt đánh 100 roi thì vẫn thi hành.
Điều lạ là cha ông nghe tin như sét đánh ngang tai nhưng lại mừng vì cho rằng đó cũng là bài học để sửa mình. Ông về quê dùi mài kinh sử rồi ngay cuối năm đó (1847), ông trở lại dự thi hương và đỗ giải nguyên (thủ khoa). Sách Đại Nam thực lục cho hay: “Thi đình bị đánh hỏng là bắt đầu từ Trứ”.
Một thời gian sau, ông trở thành một vị quan uy tín của triều Nguyễn, kinh qua rất nhiều chức vụ quan trọng. Ông là người khai sáng nghề nhiếp ảnh Việt Nam và là người đầu tiên đưa kỹ nghệ đóng tàu thủy của phương Tây vào nước ta.
Đặc biệt, ông là tác giả cuốn sách chống hối lộ có một không hai Từ thụ yếu quy, trong đó ông đưa ra 104 kiểu hối lộ không được nhận, và kiểu hối lộ đầu tiên mà ông chỉ mặt là “sĩ tử đi thi hối lộ để cầu được đỗ”.
| Một bài làm của thí sinh tại kỳ thi hội khoa 1913 - Ảnh tư liệu |
Sửa bài cứu thí sinh, Cao Bá Quát suýt mất mạng
Năm Tân Sửu 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi liền cho mở khoa thi để ghi dấu ấn đăng quang. Cao Bá Quát lúc đó đang làm công việc hành tẩu ở Bộ Lễ được triệu tập làm quan sơ khảo ở trường thi Thừa Thiên (thi hương) cùng với Phan Nhạ. Khi chấm quyển thi (bài thi) của thí sinh, ông thấy nhiều bài văn hay chữ tốt nhưng lại có mấy chữ phạm húy tên vua.
Chiếu theo trường quy thì phải bỏ đi, nhưng nghĩ thương cho sĩ tử bèn bàn với ông Phan Nhạ dùng muội đèn sửa những chữ phạm húy trong 24 bài thi, nhờ thế mà cứu đỗ thí sinh. Sự việc bại lộ, ông Quát và ông Nhạ thú nhận: “Sính bút làm càn chứ không phải do ai dặn dò, gửi gắm gì cả”. Án xử khép hai ông vào tội “trảm quyết” (chém đầu).
Sách Đại Nam thực lục (đệ tam kỷ, quyển thứ 11, là sách sử của triều Nguyễn) chép lại diễn biến vụ án này khá chi tiết. Sau khi Bộ Lễ và Viện Đô sát tuyên án xử tử, vua Thiệu Trị liền “phúc thẩm”, xét thấy “bọn Quát” làm việc này là để cứu thí sinh nên tha cho tội xử tử mà giảm xuống án “giảo giam hậu” (giam vào ngục để chờ xử sau).
Quan chủ khảo Bùi Quỹ và phó chủ khảo Trương Tiến Sĩ (Trương Tấn Nhậm) bị xử cách chức, hai giám khảo Phan Văn Nhã và Trương Hảo Hợp bị giáng chức. Nguyễn Văn Siêu cùng tham gia làm khảo quan chỉ vì cho Bá Quát ngủ lại qua đêm ở phòng mình thôi mà cũng bị xử cách chức. Riêng năm thí sinh nhờ Cao Bá Quát sửa bài, vua cho thi lại và thấy văn đều khá nên cho lấy đỗ cử nhân.
Thanh tra bỏ qua lỗi thiên vị con quan: cách chức
Trước đó, vào khoa thi hương năm Ất Dậu (1825), triều đình của vua Minh Mạng cử quan tham tri Bộ Hình Nguyễn Hựu Nghi và quan thông chính sứ hiệp lý Bộ Lại Hoàng Quýnh đến kiểm tra (giám thí) trường thi Nghệ An. Tại đây, quan đốc học (tương tự giám đốc sở GD-ĐT) và một số quan lại địa phương đã cho những thí sinh là người thân quen bị hỏng thành đậu. Hai ông biết chuyện đó nhưng không báo lên quan trên.
Vài tháng sau sự việc bại lộ, Nguyễn Hựu Nghi bị giáng chức, Hoàng Quýnh bị cách chức đày đi Quảng Bình. Các quan coi thi, chấm thi và quan phủ huyện ở Nghệ An đều bị giáng chức hoặc chịu phạt. Mười thí sinh con quan hỏng thi mà được đỗ đã bị đánh trượt hết.
Quay cóp nhau: đánh trượt cả hai
Tại khoa thi hội năm Bính Thìn 1856, quan chủ khảo Phan Thanh Giản phát hiện hai quyển thi có lời lẽ, ý tứ hơi giống nhau liền niêm phong trình lên vua.
Vua Tự Đức xem xong phê rằng hai bài “giống nhau như một tay làm”, bèn lệnh cho Bộ Lễ xét kỹ thì thấy quyển của thí sinh Phan Khắc Kiệm thơ không thành luật, phú không nói ra ý đầu bài chứng tỏ không phải thực học. Quyển kia là của thí sinh Trần Gia Huệ, bạn thân với Kiệm, ngồi thi cùng một “vi” (khu vực thi) nên có thể Huệ đã cho Kiệm xem bài.
Vua phán: “Lấy học trò đỗ là cốt lấy ở hạnh, không cốt lấy ở văn” nên đánh trượt cả hai, phạt 50 roi và đình lương một năm (do cả hai là cử nhân học ở Quốc Tử Giám), nhưng cho thi lại kỳ sau. Tất cả lính gác trường thi đều bị phạt 40 roi.
Vụ này được chép đầy đủ trong sách Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ, quyển 14.
MINH TỰNguồn: Báo Tuoi Tre Online, ngày 06/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500424/An-nan-truong-thi.html.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 4: Khoa thi... thất thủ kinh đô
TT - Khoa thi hội năm Ất Dậu 1885 dù đã chấm xong, chọn được người đỗ tiến sĩ, nhưng triều đình chưa kịp truyền lô xướng danh thì xảy ra sự biến thất thủ kinh đô. Sĩ tử người thì theo ngọn cờ Cần Vương, kẻ xiêu tán, người về quê tiếp tục dùi mài kinh sử chờ kỳ thi sau hầu mong đỗ đạt báo đền đất nước.
| Ông Trần Đạo Thảo và Trần Đạo Phong, cháu cụ Trần Đạo Tiềm, bên tấm bia ghi danh tiến sĩ khoa thi năm 1889 tại Văn Miếu (Huế) - Ảnh: T.LỘC |
Tiến sĩ thời loạn lạc
Theo quy định của triều Nguyễn, khoa thi cho dù đã chấm xong, xác định người đỗ đầu, đỗ thứ (đều tương đương học vị tiến sĩ) nhưng chưa tổ chức truyền lô xướng danh tiến sĩ thì vẫn chưa được công nhận đỗ đạt.
|
Cụ Trần Đạo Tiềm trước đó đã đỗ cử nhân tại khoa thi năm Mậu Dần (1878) dưới thời Tự Đức, lúc ông tròn 18 tuổi. Hai năm sau, tại khoa thi hội Canh Tý (1880), ông đã đậu phó bảng, được vào thi đình nhưng lại viết sót chữ nên bị truất xuống còn học vị cử nhân. Đến thời Hàm Nghi, triều đình mở khoa thi hội vào ngày 15 tháng 5 năm Ất Dậu 1885, ông lại lên kinh ứng thí. Kết quả tưởng đã nắm chắc trong tay bởi trong danh sách 13 vị đỗ năm ấy, thí sinh Trần Đạo Tiềm đỗ đầu, tức trúng cách, tương đương tiến sĩ, chỉ chờ truyền lô. Chẳng ngờ xảy ra sự biến.
Là một trong số 12 người đỗ phó trúng cách năm ấy, phó bảng thượng thư Nguyễn Văn Mại (tác giả sách VN phong sử) đã thuật lại cái ngày loạn lạc cũng đồng thời lúc công bố kết quả trong Lô Giang tiểu sử - cuốn sách chưa chính thức xuất bản của ông. Sáng 22 tháng 5 (âm lịch), Nguyễn Văn Mại cùng đồng môn Trần Đạo Tiềm đến Bộ Lễ chờ xem kết quả thi. Kinh thành hôm đó ban lệnh giới nghiêm, người qua đường chỉ lặng lẽ nhìn nhau không dám nói điều gì. Ở khắp kinh thành, từ đồn Mang Cá cho đến khu Lục bộ (khu nhà của sáu bộ thuộc nội các triều Nguyễn), hai bên các tuyến đường đều được đào hào công sự. Quân lính của triều đình trang bị gươm đao, súng ống trong thế sẵn sàng chiến đấu. Trước các trại lính, người ta chất đầy những thùng chứa cột cây chuối để phòng bị. Những đống trái bàng và mù u chất đầy khu vực quanh đồn Mang Cá nhằm bẫy quân Pháp trượt chân té ngã. Người dân lẫn các quan viên trong Thành nội lục tục di dời vợ con, di chuyển của cải về quê.
Nguyễn Văn Mại viết: “Anh Trần Ðạo Tiềm nói với ta rằng: “Xưa ông Văn Thiên Tường bái tướng (một anh hùng khí phách đời Tống trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông của Trung Hoa - PV), khi thế nước đã nguy vong mà thân gánh nặng 300 năm cơ nghiệp nhà Tống. Chúng ta đăng khoa ngày nay cũng là một sự bất hạnh vậy”. Nói rồi dắt tay nhau về quê. Vào khoảng 8 giờ đêm hôm ấy bỗng nghe tiếng súng như sấm, ngó qua phía đông kinh thành lửa sáng ngập trời, đến 4 giờ sáng chỉ nghe súng tay liên tiếp như pháo nổ. Vua Hàm Nghi xuất bôn!”.
Mãi cho đến bốn năm sau, khoa thi hội dưới triều đình Thành Thái đã chọn được 15 người cho vào thi đình. Tám trong số 13 người đỗ trong năm Ất Dậu chưa kịp truyền lô được triều đình “đặc cách” cho dự thi đình. Trần Đạo Tiềm có trong danh sách ấy. Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ. Có bằng tiến sĩ, ông được bổ nhiệm làm quan tri phủ Hoài Nhơn (Bình Định) trong một thời gian ngắn, rồi chuyển về kinh đô làm việc tại trường Quốc Tử Giám. Sau khi vua Thành Thái bị truất phế năm 1907, ông rất phẫn nộ và xin rút khỏi quan trường, bỏ về quê uống rượu giải sầu cho đến cuối đời. Trong thời gian dạy học của mình, Trần Đạo Tiềm để lại rất nhiều câu chuyện thể hiện sự tận tâm, tận lực với học trò, xem học trò như con cháu trong nhà. Sau này khi qua đời, 22 học trò đã cúng ba sào đất để xây mộ, lập bia cụ ở quê nhà Đông Lâm.
Chính sách thi thời loạn
Sau sự biến kinh đô thất thủ, nhiều địa phương trong cả nước nổi dậy đấu tranh, sĩ tử các vùng miền hưởng ứng phong trào Cần Vương chống đối triều đình Đồng Khánh cũng như quân Pháp. Tháng 8 - 1886, vua Đồng Khánh cho phép gộp chung hai trường thi Hà Nội và Nam Định thành một ở Nam Định. Kinh lược sứ Nguyễn Trọng Hợp đã đề nghị và được triều đình chuẩn y cấm toàn bộ cử nhân và tiến sĩ ở khu vực Bắc kỳ không được tập trung hoặc lai vãng khu vực trường thi, vừa nhằm đảm bảo an ninh, tránh tình trạng gạ bài thí sinh, làm loạn hoặc nhiều việc phức tạp khác.
Dù thi tại một trường nhưng thí sinh và tổ chức trường thi vẫn được phân thành hai bộ phận riêng biệt, kể cả khuôn dấu lẫn các học quan. Quyển thi của thí sinh trường Hà Nội được đóng dấu son, còn của thí sinh trường Nam Định đóng dấu chàm. Hai hội đồng chấm thi riêng và không được giao thiệp với nhau. Các quan viên cấp nhỏ lo từ phúc khảo, sơ khảo trở xuống thì chọn những người có học ở Bắc kỳ. Các quan viên từ phân khảo trở lên do Bộ Lễ chọn từ kinh đô Huế rồi triều đình phái ra. Hồi đó đường bộ từ Quảng Bình trở ra Nghệ An chưa thông do loạn lạc, triều đình cho đi bằng tàu thủy. Khoa thi hương này sau đó được tổ chức thi gộp sĩ tử Hà Nội, Nam Định và cả Ninh Bình lấy đậu 74 người.
Tình trạng tẩy chay kỳ thi lan truyền trong giới nho học, nhiều trường thi vì quá ít thí sinh không thể tổ chức được phải liên tục đình hoãn. Để tạo điều kiện dễ dàng cho thí sinh, vào tháng 10-1886 triều đình Đồng Khánh đã đề ra chính sách khá đặc biệt: cho phép thí sinh tất cả các tỉnh, kể cả kinh kỳ, đến đăng ký dự phiên sát hạch tại các vị học quan của trường thi ở nơi họ tạm trú, thay cho quy định chỉ sát hạch tại nơi ở chính của mình. Sách Đại Nam thực lục ghi lý do: “Lại năm gần đây có loạn, học trò phần nhiều tản đi ngụ ở các nơi, nếu đến kỳ khoa thi trở về không tiện, nghĩ xin như có người nào tình nguyện đi thi, đến nộp đơn ở học thần sở tại để vừa rộng cách gia ân, học trò lại được yên định”...
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc quyết tâm mở khoa thi trong thời kỳ loạn lạc cũng nhằm tạo tâm lý ổn định xã hội, góp phần thu phục lòng người vốn bất an.
THÁI LỘC
--------------------------------------------------
Phạm hai chữ húy, Đặng Huy Trứ mất cả tiến sĩ lẫn cử nhân. Sửa bài thi, Cao Bá Quát suýt mất mạng.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online, ngày 05/07/2012 truy cập cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500272/Khoa-thi-that-thu-kinh-do.html.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online, ngày 05/07/2012 truy cập cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500272/Khoa-thi-that-thu-kinh-do.html.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 3: 21 lần thi, 82 tuổi mới đậu
TT - 21 lần đi thi, đến năm 82 tuổi mới đậu cử nhân. Đó là thí sinh đặc biệt nhất của lịch sử thi cử Việt Nam, ông tên Đoàn Tử Quang (1818-1928), quê ở làng Phụng Đạt, xã Phụng Công, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tĩnh).
| Bàn thờ cụ Đoàn Tử Quang ở Đức Thọ (Hà Tĩnh) - Ảnh: THÁI LỘC |
| Ảnh chụp cụ Đoàn Tử Quang lúc 106 tuổi - Ảnh: Thái Lộc chụp lại |
Trường thi ngơ ngác
Tại khoa thi hương năm Canh Tí 1900, cả trường thi Nghệ An đều ngạc nhiên trước một trường hợp gần như chưa từng có trong lịch sử khoa cử Việt Nam: một thí sinh 82 tuổi, râu tóc bạc phơ bước vào trường thi đua tài cùng khoảng 4.000 mái đầu xanh đáng hàng con cháu.
Trong bài ký về trường thi đặc biệt ấy, hai vị quan chánh chủ khảo là Khiếu Năng Tĩnh và phó chánh Mai Khắc Đôn chép lại rằng có một “kẻ nọ” (quan viên) xin phép trường thi gọi cụ hỏi thăm sức khỏe: “Gọi đến lượt lão, lão vào. Kẻ lại phòng nọ xuống ghế, cầm lấy tay mà nói: “Tốt thay! Thọ bấy mà chí sao bền thế? Mắt lão có mờ chăng?”. “Có mờ!”. “Tai lão không điếc chăng?”. “Có điếc!”. “Chân, gối lão không yếu và mỏi chăng?”. “Còn đi, còn lạy, còn đưa đón được!”. Kẻ nọ nghe nói khen mạnh thực! Lão bỏ quyển vào ống rồi vào, coi rõ thẻ, đóng lều, chẫm chệ ngồi trên ghế!”...
Hầu hết mọi người đều lo lắng cho sức lực cụ già không địch nổi với lứa tuổi thiếu niên tài hoa. Các quan viên cũng tìm nhiều cách thử khả năng của thí sinh đặc biệt này, và ngạc nhiên khi “duyệt lại thấy không có chữ nào nét đậm nét lạt, hàng xiên hàng thẳng cả”. Bài thi của cụ Đoàn Tử Quang năm ấy, theo nhận xét của quan chánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh, chính là “địch thủ” của thí sinh Phan Bội Châu: “Trong bốn kỳ văn quyển thấy nét chữ, cốt cách còn dư tươi, tuy rằng giải nguyên khoa này, Phan Bội Châu ba mươi bốn tuổi tưởng không có thể lấy nét chữ ăn lão được một mảy...”. Tuy vậy, kết quả bốn vòng thi cụ Quang đã đạt hai vòng ưu, một vòng thứ, một vòng bình. Lẽ ra ông được xếp thứ nhì, nhưng trong bài thi bỏ sót mất một chữ nên xếp hàng áp chót, thứ 29/30 người đậu...
Có bằng cử nhân, dù đã quá tuổi theo quy định nhưng cụ Đoàn Tử Quang cũng được bổ nhiệm làm chức quan huấn đạo (lo việc học hành) ở huyện Hương Sơn và Can Lộc (Hà Tĩnh). Đến năm 1903, cụ xin cáo quan về quê để phụng dưỡng mẹ già. Cụ mất vào ngày 7-2 năm Mậu Thìn 1928, thọ 110 tuổi. Cuộc đời cụ quả là hiếm hoi, sống qua suốt 13 đời vua Nguyễn từ Gia Long cho đến Bảo Đại, từng chứng kiến biết bao thăng trầm của vận nước.
Thi để báo hiếu mẹ già
“Thấy tuổi già tưởng văn non mà thương, hóa ra những món tưởng non lại thành cứng; thấy già tưởng chữ viết lòe nhòe xiên xẹo mà chính ra lại cứng cáp tốt tươi. Tưởng bênh cho may đậu tú tài mà lại tự mình sắp đậu giải nguyên. Tưởng tám mươi hai tuổi là già lắm, mà còn mẹ chín mươi tám tuổi. Chín mươi tám tuổi mà góa chồng từ thủa mười bảy. Tưởng lòa, lảng, yếu mà sáng tỏ, mạnh. Tưởng lấy phần cho cháu chắt mà chính lấy phần cho mẹ già. Tưởng vì công danh mà đeo đuổi khoa trường mà chính ra là muốn cho vui lòng mẹ”.
(Học giả Hoàng Xuân Hãn viết về thí sinh đặc biệt Đoàn Tử Quang, đăng trên báo Thanh Nghị năm 1944)
|
Ông Đoàn Tử Hòa, cháu năm đời của cụ Đoàn Tử Quang, hiện là bí thư Đảng ủy xã Đức Hòa, cho biết: cụ vốn tên Đoàn Tự Cận. Sau nhiều lần lều chõng đi thi mà chỉ hai lần đỗ tú tài, một lần vào năm 1867 và một lần vào năm 1884, lúc đã 66 tuổi. Cụ cho rằng do cái tên mình như bị trời giam hãm (tự trong chữ Hán như có mái che ở trên không nhìn được cao xa; cận tức gần), nên đã thay đổi bằng cách “tháo cái mái” trên đầu chữ “Tự” thành chữ “Tử” (nghĩa là con), đồng thời đổi tên Cận thành Quang (sáng), như một sự nhận lãnh trách nhiệm xây dựng họ Đoàn Tử theo nghiệp thi thư. Thế nhưng nhiều khoa thi tiếp theo vận may vẫn chưa mỉm cười. Ông Hòa cũng cho biết đến tuổi 82, cụ Đoàn Tử Quang không muốn đi thi nữa vì tuổi đã quá cao, song vì muốn báo hiếu với mẹ già mà quyết mang lều chõng thêm một phen nữa.
Đầu năm 1900, bà Nguyễn Thị Sen, vợ ông, vừa qua đời. Theo quy định của triều đình, hai con trai là Đoàn Tử Tiến và Đoàn Tử Thiều phải đoạn tang ba năm mới được thi. Cả làng Thượng Đạt năm ấy không có ai đi thi nên các vị chức sắc trong làng đến xin cụ ứng thí để làng còn mở mày mở mặt. Cụ lắc đầu. Vốn cụ nổi tiếng là người chí hiếu với mẹ già, họ đã tác động đến người mẹ Lê Thị Nậm năm ấy đã 97 tuổi; bà cụ đã khuyên nhủ con trai thi tiếp vừa để giữ thể diện gia đình. Sau này trong lễ nhận bằng của triều đình, cụ Quang đã trả lời lý do đi thi với các quan viên rằng: “Lúc mẹ lão mười bảy tuổi thì trời cướp mất cha lão. Mẹ lão thủ tiết nuôi con; lênh đênh cơ khổ cho đến lúc thành lập. Vào khoảng thời Tự Đức, được phong Tiết phụ thứ hạng và được thưởng bạc mười lăm lượng. Mẹ lão cảm ân chảy nước mắt. Lão đậu tú tài hai lần mà vẫn xui lão gắng học; bảo lão rằng ta từ khi làm vợ nhà mày, chưa từng thấy cha mày một ngày nào mà không đọc sách. Cha có chí chưa thành, mày cứ học đến già khiến cho con cháu nối đó mà học để thành được chí cha mày. Lão có ngày nay, hết thảy nhờ công dạy của mẹ lão!”.
Ở buổi xướng danh năm ấy, sau khi được cấp mũ áo ra trình diện, bái lạy ân và lộc yến vua ban, cụ lấy những thức ăn có thể lấy được cho vào trong tay áo. Những người ngồi bên cười nói chắc ông lão lấy nhiều về chia cho rất đông con cháu. Song họ đã nhầm. Cụ lấy lộc vua về dâng mẹ.
THÁI LỘC
____________________
Dù đã chấm thi xong, chọn được người đỗ tiến sĩ, nhưng triều đình chưa kịp truyền lô xướng danh thì xảy ra sự biến thất thủ kinh đô 1885.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online, ngày 04/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500053/21-lan-thi-82-tuoi-moi-dau.html.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online, ngày 04/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/500053/21-lan-thi-82-tuoi-moi-dau.html.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 2: Thi hương, thi hội, thi đình...
TT - Cũng như các triều đại trước, hệ thống thi cử dưới thời Nguyễn gồm có ba kỳ: thi hương, thi hội và thi đình. Thi hương là kỳ thi ở địa phương, gồm một số tỉnh thi chung một trường, nhằm mục đích kén chọn người tài để vào dự thi hội và thi đình. Các trường miền Bắc thi hương khoảng tháng 10, miền Trung và Nam khoảng tháng 3 đến tháng 7.
| Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912) với chòi canh và lều chõng của thí sinh - Ảnh tư liệu |
Thi từ sáng sớm đến tối mịt
Trống điểm canh tư (chừng 1g sáng) thí sinh phải có mặt ở trường thi để nghe gọi tên, đến khoảng canh năm tám khắc (khoảng 5g sáng) thì thí sinh phải vào hết trong trường. Thí sinh làm bài cho đến giờ Thân (3-5 giờ chiều) thì bắt đầu nộp bài, hạn cuối là hết canh một (tức 19g). Vì vậy, thí sinh vào trường phải chuẩn bị đầy đủ lều, chõng, chiếu, tráp đựng nghiên, bút, giấy, mực, dao kéo... và thức ăn dùng trong một ngày.
Quan trọng nhất là chuẩn bị quyển thi (tức giấy làm bài thi đóng thành quyển), phải giữ gìn hết sức sạch sẽ. Quyển thi là do thí sinh đem nộp trước cho dinh đốc học để kiểm tra, đóng dấu. Khi quan trường gọi đúng tên, thí sinh phải “dạ” thật to rồi vào cổng trường thi để nhận lại quyển thi. Vào trường thi, thí sinh tìm chỗ cắm lều, đặt chõng, đến khi sáng rõ mặt thì xong để chuẩn bị làm bài thi.
Tứ trường và thiên kinh vạn quyển
Theo Khâm Định Đại Nam Hội điển sự lệ, thi hương có khi thi ba vòng (người xưa gọi tam trường) có khi thi bốn vòng (tứ trường). Vòng một thi kinh nghĩa (tức các sách tứ thư, ngũ kinh của Nho giáo), vòng hai thi chiếu biểu (tức soạn thảo các văn bản hành chính như chiếu, biểu, sớ, dụ...), vòng ba thi thơ phú (sáng tác theo chủ đề của đề thi), vòng bốn thi văn sách (tương tự như thi tự luận).
Vòng thi kinh nghĩa tương đối dễ với thí sinh, chỉ cần thuộc lòng tứ thư, ngũ kinh và trình bày cho đúng ý của người xưa. Vòng thi chiếu biểu phải thuộc hàng trăm bài loại này rồi chắt lọc tinh hoa để viết thành bài thi. Dễ làm và khó đỗ nhất là kỳ thi thơ phú. Dễ vì suốt cả ngày chỉ cần sáng tác một bài thơ tối đa 16 câu và một bài phú tám câu, nhưng cái khó là phải hay, vì cái hay nó vô cùng.
Vòng bốn thi văn sách thì tự do trình bày theo kiến giải riêng của mình, tương tự như thi tự luận ngày nay. Muốn qua được vòng thi này, không những phải làu thông kinh sử mà còn phải biết vận dụng sở học của mình để trình bày những kiến giải mới lạ. Đề thi thường hỏi đủ mọi lĩnh vực: thiên văn, địa lý, bói toán, y học...; đặc biệt là những câu hỏi về thời sự, đòi hỏi thí sinh phải có những kiến giải độc đáo và đưa ra giải pháp khả thi. Thi tứ trường nhưng phải học thiên kinh vạn quyển là thế!
Mang tài liệu vào trường thi: gông cổ, đánh 100 roi
Không được mang tài liệu vào trường thi; không nói chuyện ồn ào, đi lại lộn xộn; không được quên đóng dấu “nhật trung” (là dấu giáp lai các trang bài thi, dấu xác định bài thi được làm tại trường thi...); cấm ngồi không đúng chỗ, tự ý vứt bỏ hoặc sửa chữa bảng tên; cấm kê khai gian lận tên tuổi; cấm nộp bài trễ hạn. Các quy định đó xem ra cũng không khác gì bây giờ, nhưng hình phạt cho người vi phạm thì rất nghiêm khắc. Nếu bị phát hiện mang tài liệu vào phòng thi sẽ bị đóng gông một tháng, sau đó bị đánh 100 roi. Nói chuyện ồn ào thì không những thí sinh bị trị tội mà còn truy tội cả các vị quan đốc học, giáo thụ và huấn đạo ở địa phương.
Trong bài thi lại có những quy định khác, rắc rối và ngặt nghèo hơn, chủ yếu là những lỗi về hình thức mà thí sinh phải tránh. Đầu tiên là lỗi khiếm tị (không biết tránh chữ húy). Bài thi của thí sinh phải tránh viết những chữ húy kỵ của triều đình, đó là tên của tất cả các đời vua, hoàng hậu, kể cả ông bà tổ tiên vua; rồi thì tên lăng, miếu, cung, điện, làng quê của vua...
Sau lỗi khiếm tị là lỗi khiếm trang và khiếm đài. Khiếm trang có nghĩa là thiếu phần tao nhã, do dùng những từ thô tục về nghĩa cũng như về âm, thiếu tôn kính với các từ tôn nghiêm. Đang hành văn mà gặp những từ tôn kính như thiên, địa, đế, hậu... thì phải tự động sang hàng và đài (nâng cao lên trong dòng chữ). Nếu không là mắc lỗi khiếm đài.
Chưa hết, bài thi phải viết loại chữ chân phương, thiếu một nét, một chấm xem như mắc lỗi. Quyển thi nếu bị ố bẩn, tì vết, xem như làm dấu cũng bị đánh rớt. Lệ còn quy định mỗi quyển thi không được đồ (xóa bỏ), di (sót), câu (móc), cải (sửa) quá 10 chữ. Khi làm xong bài, cuối quyển thi phải ghi rõ số chữ đã đồ, di, câu, cải. Nếu đồ, di, câu, cải vượt quá 10 chữ, hoặc sai sót, ố bẩn, tì vết không thể khắc phục thì đem lên quan trường xin đổi quyển thi khác hợp lệ. Phạm vào lỗi gì đều được niêm yết rõ lên bảng con ở mỗi khu vực cho thí sinh biết vì sao mà hỏng thi.
Những thí sinh chỉ đỗ được ba trường thi hương thì được học vị tú tài. Những thí sinh vượt qua được cả bốn trường thì được học vị cử nhân, được ban cấp áo mão, ban yến (đãi tiệc), rồi vinh quy bái tổ.
Tiếp tục cuộc đua tiến sĩ
Tân cử nhân về quê tiếp tục đèn sách đợi sang năm vào kinh đô dự kỳ thi hội, cùng với những cử nhân của các khoa trước đó, những thí sinh đã vượt qua một kỳ khảo hạch đặc biệt do triều đình, và một số ít quan lại muốn có học vị cao hơn. Cách thức làm bài và trường quy thi hội không khác mấy với thi hương, chỉ khác là phạm quy thì bị tội nặng hơn.
Thi hội không có truyền lô (xướng danh) nhưng lễ yết bảng (công bố kết quả) rất long trọng. Bảng chính ghi tên những người đạt hạng trúng cách, bảng thứ ghi tên người hạng thứ trúng cách.
Chỉ những người trúng cách mới được tiếp tục tham gia thi đình, tổ chức trong cung đình, do đích thân nhà vua ra đề và là người chấm thi cuối cùng. Quyển thi và quyển nháp đều do bộ Lễ cấp, có rọc phách hẳn hoi. Vua chấm thi vẫn không biết bài đó của ai. Thi đình thực chất là cuộc phúc tra cuối cùng nhằm thẩm định và xếp hạng các tân tiến sĩ.
Sau khi vua chấm bài thì học vị của các sĩ tử được quyết định và bảng vàng ghi danh là vinh hiển tột cùng. Các tiến sĩ có tên niêm yết trên bảng vàng sẽ được ban yến tiệc trong cung, được bệ kiến hoàng thượng, được thăm hoa ở vườn ngự uyển, được cưỡi ngựa dạo khắp kinh thành, rồi vinh quy bái tổ. Phần thưởng cao quý nhất cho tiến sĩ là được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu để lưu danh mãi mãi.
Hệ thống học vị dưới triều Nguyễn
1. Thi hương đỗ tam trường (ba vòng đầu), đạt học vị: tú tài; đỗ tứ trường: hương cống (về sau gọi là cử nhân); đỗ thủ khoa: giải nguyên.
2. Thi hội: đỗ bảng chính gọi là trúng cách được tiếp tục dự thi đình; đỗ bảng thứ là thứ trúng cách, được học vị: phó bảng; đỗ thủ khoa: hội nguyên.
3. Thi đình: đỗ thi đình đạt học vị chung là tiến sĩ; đỗ thủ khoa: đình nguyên. Trong đó, đỗ từ 8-10 điểm được xếp bậc đệ nhất giáp. 10 điểm được lấy đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, thường gọi là trạng nguyên. 9 điểm: đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, thường gọi là bảng nhãn. 8 điểm: đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, thường gọi là thám hoa.
|
PHẠM ĐỨC THÀNH DŨNG (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế)
----------------------------------------------------
21 lần đi thi, đến năm 82 tuổi mới đậu cử nhân. Đó là thí sinh đặc biệt nhất trong lịch sử thi cử Việt Nam.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online ngày 03/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/499902/Thi-huong-thi-hoi-thi-dinh.html.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online ngày 03/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/499902/Thi-huong-thi-hoi-thi-dinh.html.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 1: Sĩ tử thời xưa
Thi cử đã xuất hiện ở VN từ gần 1.000 năm rồi, kể từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão 1075 đời Lý. Vậy thì ông cha mình đã tổ chức việc thi cử như thế nào? Sĩ tử học hành, ứng thí ra sao? Trường thi ngày xưa như thế nào? Việc chấm thi và công bố kết quả? Trường thi có xảy ra sự cố như bây giờ không?...
Độc giả hãy cùng chúng tôi lùi lại quá khứ để tìm hiểu về chuyện thi cử dưới thời Nguyễn, là triều đại kế thừa nền tảng khoa cử từ các thời trước và xây dựng thành hệ thống khoa cử hoàn chỉnh nhất.
Lều chõng ngày xưa - Kỳ 1: Sĩ tử thời xưa
TT - Chúng tôi trở lại Văn Miếu (Huế) vào một ngày cuối tháng 6, nắng hè như đổ lửa. Bên trong nhà thờ các vị học trò Khổng Tử thì râm mát hơn nên các cô cậu thí sinh vào tránh nắng để tranh thủ ôn bài.
Bên ngoài sân, một vài vị du khách đang lúi húi với những dòng chữ Nho trên hàng bia tiến sĩ. Có lẽ họ đang đi tìm dấu tích của tiền bối đã đỗ đạt dưới thời Nguyễn.
| Lều và chõng tre cho thí sinh ngồi làm bài - Ảnh tư liệu |
Thí sinh ngày đó học gì?
“...Các bậc thánh đế minh vương không ai không lấy việc nuôi nấng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, bồi đắp nguyên khí làm việc ưu tiên...”.
Đó là những dòng trong bài văn bia nổi tiếng khắc trên tấm bia tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn Miếu (Hà Nội) ghi tên những tiến sĩ khoa thi năm 1442 dưới triều Lê. Muốn chọn hiền tài tất phải thông qua thi cử. Triều Nguyễn cũng kế tục và phát triển quan điểm đó.
|
Bắt đầu là học chữ Nho với các thầy đồ (gọi là sơ học), với các sách Tam thiên tự, Tam tự kinh, Hiếu kinh, Ấu học quỳnh lâm...
Lớn lên chừng 10 tuổi bắt đầu làm quen những sách kinh điển của Nho giáo, như bộ Tứ thư (Đại Học, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung), lần lần đến Ngũ kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu), rồi Bắc sử (sử Trung Quốc), Nam sử (sử nước ta).
Ngoài ra, còn phải đọc sách của Bách gia chư tử, tức sách của các triết gia Trung Quốc thời cổ đại; học thêm Đường thi, Tống thi, các áng văn tiêu biểu trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam; nghiền ngẫm những bài văn sách danh tiếng qua các đời...
Đó là nội dung cơ bản của việc học. Tất thảy phải thuộc lòng, quên một chữ là phải tìm thầy để hỏi. Thử hình dung một khối lượng khổng lồ tri thức như vậy, hoàn toàn bằng chữ Hán, việc học gian nan biết chừng nào, hẳn sĩ tử phải học bằng quyết tâm sống còn mới có thể ra trường thi.
Nhưng kiến thức trên mới là phần cứng, còn làm bài thi lại là một sự vận dụng linh hoạt, đòi hỏi tài năng sáng tạo. Việc hành văn thì từ nhỏ đã tập viết, tập làm thơ. Khi đã thông làu kinh sử thì tập viết những bài văn. Khi bước chân vào kỳ hạch (khảo khóa, tức sơ khảo) ở địa phương, các thể loại kinh, văn sách, thi phú, văn tứ lục (tức các loại văn bản hành chính: chiếu, biểu...) thí sinh đã phải tường tận lắm rồi mới mong vượt được kỳ sơ khảo này.
Không quy định tuổi tác
Vì điều kiện dự thi không hạn định tuổi tác nên trẻ dưới hai mươi, già trên năm mươi đều có thể ứng thí. Cha con cùng đi thi, có trường hợp 82 tuổi vẫn còn đi thi như thí sinh Đoàn Tử Quang ở Hà Tĩnh năm 1900 (độc giả sẽ đọc thấy trong kỳ sau).
Trước kỳ thi hương tối thiểu là ba tháng phải tổ chức kỳ khảo khóa để sơ tuyển những người đủ tư cách và trình độ đi thi. Sau đó, lập danh sách trình lên trên để chuẩn bị kỳ thi hương. Người nào qua được kỳ khảo khóa này được gọi là thầy khóa (hay còn gọi là khóa sinh); chưa phải là học vị gì nhưng như thế cũng đã oai lắm rồi. Tuy nhiên, qua được kỳ khảo khóa, muốn dự thi hương phải còn xem xét một số tiêu chí ràng buộc về mặt hành chính mà ta quen gọi là “lý lịch” trong thi cử.
| Quan bắc loa gọi tên thí sinh vào trường thi - Ảnh tư liệu |
Rất xem trọng đạo đức thí sinh
Trước thời gian thi bốn tháng, những thí sinh muốn dự thi phải ghi danh tại lý trưởng của làng để xem xét tư cách.
Nhà Nguyễn quy định những trường hợp sau không được dự thi:
Đang chịu tang cha hoặc mẹ, hoặc đang chịu tang ông bà nội mà đương sự là người phải lo việc thờ phụng. Những người bất hiếu, bất mục (không hòa thuận với anh em), gian dâm, bạo tàn.
Thân thuộc với những người phạm tội đã bị chém, giảo (thắt cổ), đi đày, sung quân (dù những người này đã được tha về)... thì không được ứng thí. Trường hợp người thân phạm tội nhẹ hơn thì được xem xét.
Thân thuộc với giặc. Điều luật này chia làm bốn khoản quy định từ nặng đến nhẹ và mức độ thân thuộc. Nếu giặc là chánh yếu phạm, tức mang những chức tước cao nhất, không kể đã bị xét xử hay chưa, dù đã chết hay đã ra đầu thú được khoan dung, thì từ con cho đến cháu, chắt cùng những người chịu tang từ chín tháng trở lên (giả định người làm giặc chết đi) đều không được dự thi. Nếu kẻ chịu án thuộc hàng thứ phạm, chỉ mang chức tước nhỏ thì con, cháu cùng những người chịu tang trong một năm không được dự thi, kể cả khi đã ra đầu thú hoặc lập công chuộc tội được giảm miễn. Nếu là kẻ tòng phạm can tâm theo giặc nhưng không có chức tước hoặc chức tước nhỏ thì con và cháu không được dự thi. Nếu kẻ tòng phạm đã ra đầu thú, lập công chuộc tội đã được giảm án thì cháu được đi thi. Nếu là kẻ tòng phạm nhưng bị giặc ức hiếp phải theo chẳng có chức tước gì thì con không được đi thi nhưng cháu trở xuống đều được đi thi.
Người theo tả đạo (đạo Thiên Chúa) bị cấm dự thi, nhưng ra khỏi đạo thì cho dự thi. Phụ nữ bị cấm tiệt không được dự thi.
Đã vào trường thi là bình đẳng
Ngoài ra, triều đình còn quy định những người ngoại tỉnh đến trú ngụ học thi phải về thi tại quê quán, trừ những người theo cha ông đi trấn nhậm ở xa. Trong quyển thi (tức bài thi, đóng bằng giấy bổi) của mình, trang đầu tiên ngoài tên tuổi, quê quán và nơi học tập, thí sinh phải ghi rõ phần cung khai tam đại (kê khai ba đời) về ông cố, ông nội, cha: nghề nghiệp, còn sống hay đã chết.
Tất nhiên, không thể man khai, vì chính quyền sở tại đã nắm vững lý lịch của thí sinh từ khi tham dự kỳ khảo khóa. Đến khoa thi hương cuối cùng năm 1918, quy định thí sinh phải dán ảnh.
Nếu đã phạm vào những quy định trên thì chắc chắn không được dự thi, nhưng nếu đã có quyền dự thi thì tất cả thí sinh đều hoàn toàn bình đẳng, không có tầng lớp nào bị đối xử nghiệt ngã hay được ban đặc quyền đặc lợi.
Trong suốt 143 năm tồn tại, triều Nguyễn tổ chức 39 khoa thi hội, lấy đỗ 293 vị tiến sĩ, chỉ có duy nhất một người trong hoàng tộc (dòng họ nhà vua) đỗ đại khoa, đó là ông Tôn Thất Lĩnh, đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1889) triều Thành Thái.
Ngoài ra, trên các bia tiến sĩ chỉ thấy lác đác vài người xuất thân là ấm sinh, ấm tử (con của quan lại từ hàng tam phẩm trở lên, được học trong trường QuốcTử Giám), còn lại đại đa số là con em giới bình dân.
PHẠM ĐỨC THÀNH DŨNG (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế)
_______________________
Vượt qua được kỳ khảo khóa (sơ khảo) ở địa phương, nếu lý lịch không phạm vào các điều khoản cấm dự thi, xem như sĩ tử đã đủ trình độ chữ nghĩa và tư cách đạo đức để đàng hoàng bước vào trường thi. Ở đó là một cuộc so tài căng thẳng và cũng hết sức sòng phẳng.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online ngày 02/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/499710/Leu-chong-ngay-xua---Ky-1-Si-tu-thoi-xua.html.
Nguồn: Báo Tuoi Tre Online ngày 02/07/2012 truy cập từ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/499710/Leu-chong-ngay-xua---Ky-1-Si-tu-thoi-xua.html.
Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012
Châu Á – thị trường lớn cho giáo dục trực truyến
Sự chuyển dịch từ giáo dục học đường sang giáo dục trực tuyến đang tạo ra một thị trường lớn cho các nhà cung cấp dịch vụ.
|
(TBVTSG) - Tại cuộc hội thảo cấp cao về giáo dục trực tuyến lần thứ hai tổ chức ở Sydney (Úc) vào cuối tháng 2-2012, các nhà quản lý và hiệu trưởng các trường danh tiếng trên thế giới đã cho thấy bức tranh giáo dục có những chuyển biến đáng ngạc nhiên so với sáu năm trước. Sự chuyển dịch từ giáo dục học đường sang giáo dục trực tuyến vừa rõ nét vừa mang tính bổ trợ hữu hiệu cho nhau. Thị trường hóa giáo dục là một sự tất yếu, và châu Á đang vươn lên trở thành thị trường giáo dục trực tuyến đứng hàng thứ hai thế giới với cả những công ty giáo dục niêm yết trên sàn chứng khoán như ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Các ý kiến đóng góp tại cuộc hội thảo về giáo dục trực tuyến cho thấy loại hình đào tạo này đang nhanh chóng đưa nền giáo dục tri thức, các kinh nghiệm cùng kỹ năng sống ra xã hội đến với các cộng đồng, tạo nên quá trình nhân vốn con người ngay giữa các tổ chức, doanh nghiệp và trong các ngành nghề. Giáo dục trực tuyến (e-study hay e-learning) đang tạo nên sự bình đẳng về trình độ giữa vùng nông thôn với thành thị, và về cơ hội cho học viên tại các nước đang phát triển cũng như đã phát triển.Với sự bùng nổ các ứng dụng công nghệ thông tin, giáo dục hay đào tạo trực tuyến ngày nay phát triển rất mạnh trên quy mô toàn cầu, từ trường học đến xã hội, từ các cá nhân, nhà máy hay doanh nghiệp đến chính phủ. Việc trang bị vật chất và cung cấp phần mềm được chuẩn hóa vừa dễ cho người sử dụng, vừa rẻ tiền hơn lại triển khai công việc nhanh hơn, đặc biệt đối với các nhà cung cấp nổi tiếng như IBM hay Moodle.
Nhiều công ty và cả một số bộ phận quản lý của chính phủ nay tích hợp chương trình đào tạo trực tuyến vào hệ thống hạ tầng giúp cho các nhóm nhân viên có cùng mối liên hệ công tác nâng cao kiến thức, trau dồi kỹ năng và làm tăng thêm khả năng cạnh tranh. Các trường và học viện danh tiếng nay mở rộng phạm vi hoạt động của mình ra khỏi khuôn viên, đến cả những thành phố xa xôi nơi các nước khác nhau. Về mặt nào đó, giáo dục trực tuyến đang đóng góp vào mục tiêu phi vật thể hóa (de-materialisation) thông qua các lớp học không tường với một số lượng đông đảo học viên không tốn chi phí tập trung và các giảng viên cũng không mất thời gian qua lại giữa các lớp.
Từ giáo dục học đường sang giáo dục trực tuyến
| Cần có quy định pháp lý công nhận bằng cấp giáo dục trực tuyến. |
Lịch sử giáo dục trực tuyến bắt đầu trong các năm 1960 khi các giáo sư Patrick Suppes và Richard C. Atkinson thử dùng máy tính để dạy toán và tập đọc cho các học sinh tiểu học tại East Palo Alto, California (Mỹ). Những kinh nghiệm này sau đó được trường Đại học Stanford dùng để thực hiện chương trình giáo dục cho các em học sinh có năng khiếu.
Việc triển khai giáo dục trực tuyến lúc đầu chỉ là sử dụng máy tính vào việc truyền đạt một chiều những kiến thức từ thầy giáo đến học trò, nhưng về sau nó phát triển thành lối học cộng tác đa chiều giữa thầy trò và các nhóm bạn, thậm chí ở nhiều trường khác nhau nhờ sự hỗ trợ của máy tính, gọi tắt là CSCL (Computer Supported Collaborative Learning). Ở các cấp học cao hơn, một hệ thống giáo dục trực tuyến gọi là e-learning 2.0 được phát triển trên căn bản những ứng dụng Web 2.0, tính cộng tác được nâng cao hơn với những phương tiện tương tác như blog, wiki và nền giáo dục trực tuyến sau đại học này thường mang tính xã hội (socially constructed).
Ưu điểm của phương pháp đào tạo này, bao gồm cả các khóa đào tạo ngắn hay dài ngày, các cuộc hội thảo ngành nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ, là giảm thiểu chi phí đi lại và tiết kiệm thời gian. Về mặt căn bản giáo dục trực tuyến đòi hỏi đường truyền Internet chứ không phải xây dựng trường lớp tốn kém, và lẽ dĩ nhiên, mỗi học viên tùy theo khả năng của mình có thể chọn học ở những trường khác nhau, kể cả những trường danh tiếng trong nước hay ngoài nước. Các học viên có thể tiếp cận bài giảng và trao đổi nội dung với giảng viên cùng các bạn học thông qua một phòng quy mô lớn có trang bị màn hình giao tiếp, hay đơn giản chỉ qua màn hình nhỏ nơi các loại máy tính cá nhân và phương tiện di động.
Kinh nghiệm triển khai loại hình giáo dục này tại nhiều nền kinh tế khác nhau cho thấy việc đào tạo theo chế độ mọi lúc mọi nơi đang làm gia tăng đáng kể số lượng học viên. Bản thân mỗi người có thể tiết kiệm được khoảng 60% chi phí và 20-40% thời gian cần thiết cho một khóa học. Họ có thể chọn hình thức học có giảng viên hướng dẫn hay theo lối tự tương tác (interactive self-paced). Họ có thể điều chỉnh tốc độ học thích hợp hay nâng cao kiến thức thông qua việc tiếp cận thư viện trực tuyến.
Về phía nhà trường, việc tổ chức hệ thống đào tạo trực tuyến tạo điều kiện tối ưu hóa nội dung giáo trình cho các khóa học, trình độ học và cho các ngành nghề, các địa phương hay các nền văn hóa khác nhau. Thông qua nó, việc quản lý giáo dục thông qua việc theo dõi tiến độ và kết quả học tập trở nên chính xác hơn, giúp cho giảng viên sẵn sàng trợ giúp mỗi khi thấy cần thiết.
Một thị trường năng động
| Các trường đại học danh tiếng nay vượt ra khỏi khuôn viên đến các thành phố xa xôi. |
Thị trường giáo dục trực tuyến bao gồm nhiều hình thức và phân khúc khác nhau, từ cung ứng dịch vụ phần mềm và công cụ hỗ trợ đến sản xuất nội dung giảng dạy và khai thác lớp học, từ chế độ trực tuyến toàn thời đến trực tuyến từng phần hay từng môn nên con số doanh thu đưa ra bởi các hãng phân tích khác nhau cũng khác nhau.
Ambient Insight Research cho biết doanh thu giáo dục trực tuyến của thế giới trong năm 2010 là 56 tỉ đô la Mỹ, riêng tại Mỹ là 32,1 tỉ đô la với việc 98% các trường đại học và cao đẳng có tổ chức đào tạo trực tuyến. Trong thời gian này thị trường ở châu Á tăng trưởng rất nhanh, đặc biệt ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Global eLearning Market tiên đoán với đà tăng trưởng này thị trường giáo dục trực tuyến năm 2015 sẽ đạt mức 107,3 tỉ đô la.
Công ty Market Avenue có trụ sở tại Bắc Kinh cho biết việc triển khai giáo dục trực tuyến từ mẫu giáo đến sau đại học vào năm ngoái ở Trung Quốc đã giúp đạt đến doanh thu 64 tỉ đô la. Tập đoàn ChinaEdu đăng ký trên sàn chứng khoán Nasdaq (Mỹ) đang thống lĩnh thị trường giáo dục trực tuyến ở quốc gia có đông dân số nhất trên thế giới này, với thu nhập ròng trong quý 2-2011 lên đến 10,2 tỉ đô la và tỷ suất lợi nhuận lên cao đến 59,9%.
Ở Mỹ, hãng phân tích MarketData cho biết đã có 30% số người đăng ký sau tốt nghiệp trung học theo đường giáo dục trực tuyến, nâng số học viên lên 6,2 triệu và tạo nên thị trường đáng giá 60,5 tỉ đô la trong năm 2010. Đào tạo trực tuyến ở Mỹ tập trung chủ yếu vào các bậc sau đại học. Số học viên trực tuyến toàn thời chiếm đến 11% con số đăng ký trong năm 2010 và dự kiến lên mức 20% vào năm 2014, trong đó số người lớn hơn 25 tuổi sẽ tăng từ 20% lên 35-40% trong năm 2014. Các chương trình thạc sĩ có số tăng trưởng học viên toàn thời gian cao nhất, đặc biệt trong hai chuyên ngành kinh doanh và giáo dục.
Một chiến lược phát triển cho tương lai
Năm 1996, vị Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ tuyên bố “chúng ta không thể đuổi kịp tốc độ công nghiệp hóa của thế giới, nhưng chúng ta phải dẫn đầu về công nghệ thông tin”. Đó là một sách lược và các bộ ngành của quốc gia này đã hiện thực hóa bằng những hành động cụ thể, bao gồm cả việc phát triển giáo dục trực tuyến. Năm 1999, Bộ Lao động đưa ra Chương trình đào tạo trực tuyến và Chính sách bảo đảm việc làm, dẫn đến phong trào học trực tuyến nơi các tập đoàn (chaebol) như KT, Posco, LG, Samsung. Năm 2001, Bộ Nội vụ quy định việc đào tạo trực tuyến cho công chức, nhắm cùng một lúc vào hai mục tiêu là hình thành chính phủ điện tử và hình thành thị trường đào tạo trực tuyến trong nước. Kể từ 1998 đã có 40% cơ sở giáo dục cấp cao bắt đầu cung cấp các khóa học qua mạng Internet và đến năm 2006 thì hơn một nửa các trường đại học và cao đẳng tổ chức hệ thống đào tạo trực tuyến.Năm 2001, Bộ Giáo dục Hàn Quốc ban hành Luật Thành lập đại học trực tuyến và đến năm 2004 đã có 17 trường đại học loại này đi vào hoạt động, hơn một nửa trong các trường đó theo chế độ liên doanh giữa công ty với học viện.
Ở hai cấp tiểu học và trung học, Bộ Giáo dục triển khai chương trình sáu năm từ 1997 đến 2002 tập trung vào việc trang bị phòng máy tính cho mỗi trường học, máy tính cá nhân cho mỗi thầy giáo, đưa hồ sơ và kết quả học tập của mỗi học sinh vào dữ liệu điện toán, và thực hành việc dạy trực tuyến với sự hỗ trợ của Trung tâm giáo dục đa phương tiện.
Năm 2000, công ty luyện thi trực tuyến Hagwon ra đời mà nay đổi tên thành Megastudy.com, một công ty công nghệ có tốc độ phát triển nhanh nhất Hàn Quốc với tỷ lệ gia tăng doanh số năm 2009 lên đến 22,5%, đạt mức 195 triệu đô la. Hiện nay, có đến tám trong 10 học sinh trung và tiểu học Hàn quốc tham gia các khóa luyện thi trực tuyến và Chính phủ Hàn Quốc đặt mục tiêu sử dụng sách điện tử kể từ năm 2015, đẩy nhanh việc hình thành nền giáo dục trực tuyến phổ quát và áp dụng phương pháp giáo dục sáng tạo.
Ở Việt Nam, việc triển khai phương thức đào tạo mới này cũng đã có những thử nghiệm ban đầu với sự tham gia của một số tổ chức và công ty. Nhưng để phát triển một nền giáo dục trực tuyến đúng nghĩa thì cần đến những quyết tâm đầu tư cả về phía tư nhân lẫn chính phủ. Đặc biệt cần có cơ chế quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo trực tuyến và sự công nhận giá trị bằng cấp tương xứng giữa đào tạo học đường và đào tạo trực tuyến.
_______________________________________________
Tài liệu tham khảo:
- e-learning in Asia- Conference 2006: http://www.cicc.or.jp/Prg/pdf_ppt/elearning061129.pdf
- The 2nd annual E-Learning Summit: http://www.informa.com.au/conferences/education/e-learning-summit
- The online higher education market in the USA:http://www.tonybates.ca/2010/02/08/the-online-higher-education-market-in-the-usa/
- e-Learning in South Korea: http://www.e-service-expert.com/e-Learning-Korea.html
Hoàng Việt
Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 28/03/2012, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/congnghe/thitruong/73828/Chau-A-%e2%80%93-thi-truong-lon-cho-giao-duc-truc-truyen.html.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)