Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

Liệu Ấn Độ có thay được 'công xưởng thế giới' Trung Quốc?

 (TBKTSG Online) - Trong ba thập niên gần đây, các nước phương Tây đã chuyển các ngành nghề sản xuất nặng nhọc, độc hại cho con người và môi trường, sử dụng nhiều lao động không có tay nghề cao sang Trung Quốc. Đất nước đông dân nhất thế giới này có ưu thế cực lớn là có lực lượng lao động khổng lồ hàng trăm triệu người với mức lương bèo bọt, mang lại lợi nhuận rất lớn cho các doanh nghiệp phương Tây.

Bên trong một nhà máy

sản xuất điện thoại ở Ấn Độ. Ảnh: Indianera

Hàng năm, Trung Quốc cung cấp một khối lượng hàng hóa khổng lồ trị giá 2.000 tỉ USD cho nhu cầu tiêu dùng của các nước (Năm 2019 là 2.465 tỉ USD, theo số liệu của World Top Exports).

Khi "rổ trứng" Trung Quốc bị vỡ

Mọi việc vẫn ổn cho đến khi dịch Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc vào cuối năm 2019. Đại dịch đã làm các ngành sản xuất dịch vụ ở Trung Quốc bị đình trệ hàng mấy tháng liền và gây ra sự thiếu hụt hàng hóa trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới. Các nước phương Tây mới nhìn ra một sự thật phũ phàng là họ đã quá lệ thuộc vào cái “công xưởng của thế giới” này.

Giới kinh doanh phương Tây đã quên câu ngạn ngữ “Không bao giờ xếp tất cả trứng vào cùng một rổ”, họ đã dốc túi đầu tư vào Trung Quốc mà không tính đến phương án dự phòng khi chuỗi cung ứng toàn cầu - khởi nguồn từ Trung Quốc - bị gián đoạn bất ngờ. Giờ đây, các nước phương Tây đã tỉnh ngộ và đang nỗ lực tìm nguồn cung có đủ khả năng thay thế vai trò hiện nay của Trung Quốc.

Các yếu tố khác quan trọng khác cũng góp phần làm cho giới đầu tư và doanh nghiệp phương Tây phải e dè khi muốn tiếp tục làm ăn với Trung Quốc. Yếu tố thứ nhất là cuộc thương chiến Mỹ-Trung đang ngày căng thẳng với những đòn đánh ác liệt của người Mỹ làm cho việc kinh doanh thêm khó khăn. Yếu tố thứ hai, với mục đích nâng cao mức sống người lao động để tránh bất ổn xã hội, trong thập niên qua, chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần ban hành các quy định nâng cao mức lương tối thiểu làm chi phí nhân công ở nước này không còn hấp dẫn nữa.

Theo The Diplomat, mức lượng tối thiểu ở Trung Quốc đã tăng 80% so với năm 2010. Do vậy, hiện thời giá thành sản xuất hàng hóa ở Trung Quốc chỉ còn rẻ hơn so với hàng sản xuất ở Mỹ có 4%, một sự chênh lệch không đáng kể. Trung Quốc thu hút được đầu tư của phương Tây là nhờ vào giá nhân công rẻ, nay ưu thế này không còn thì các nhà đầu tư cũng không còn mặn mà làm ăn ở đây nữa là chuyện đương nhiên.

Tất cả những yếu tố vừa nêu buộc giới doanh nghiệp phương Tây phải tính đến việc tìm nguồn cung thay thế cho Trung Quốc. Theo nghiên cứu của hãng Deloitte về những ứng viên triển vọng để thay thế Trung Quốc, dựa trên các tiêu chí: Chí phí sản xuất ở quốc gia đó thấp (lương công nhân rẻ), dân số có độ tuổi bình quân trẻ, có chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn, hệ thống hạ tầng giao thông tốt, cung ứng được đầy đủ nhu cầu về lực lượng nhân sự có chuyên môn cao, có sự phổ cập về giáo dục toàn dân để lực lượng lao động phổ thông đạt được trình độ học vấn tối thiểu đáp ứng yêu cầu công việc, có thị trường tiêu dùng nội địa lớn và mức tăng trưởng kinh tế tốt. 

Theo đánh giá của Deloitte, hiện có năm ứng viên đầy triển vọng là Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam, Deloitte gọi nhóm này là"Mighty Five" hay MITI-V và cho rằng năm quốc gia này sẽ là những ứng viên thay thế cho Trung Quốc .

Cơ hội cho Ấn Độ ra sao?

Hạ tầng giao thông yếu kém đang là điểm trừ trong thu hút đầu tư vào Ấn Độ. Ảnh: Outlook India

Trong đó, Ấn Độ xếp hàng đầu nhóm MITI-V với việc đáp ứng được phần lớn các tiêu chí đề ra của giới đầu tư, giữ vị trí thứ 11 trong bảng xếp hạng 15 quốc gia có nền sản xuất có sức cạnh tranh cao nhất thế giới. 

Người Ấn cũng đã nhanh chóng nhìn ra thời cơ vàng để thay thế vai trò của Trung Quốc và họ quyết không bỏ lỡ. Trong việc này, Ấn Độ có những ưu điểm so với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.

Với dân số 1,3 tỉ người, Ấn Độ có lực lượng dân số ở độ tuổi lao động rất lớn (494 triệu) và dân số lại có độ tuổi bình quân khá trẻ (28,4 tuổi) so với dân số Trung Quốc đã bước vào thời kỳ lão hóa (38,4 tuổi).

Vốn là cựu thuộc địa của Anh, nên tiếng Anh là ngôn ngữ rất phổ biến ở Ấn, điều này tạo nhiều thuận lợi trong giao tiếp và đào đạo nhân lực. Nguồn nhân lực Ấn lại có ưu thế mà ít nước có được là rất giỏi về quản trị kinh doanh và công nghệ thông tin. Các CEO của những tập đoàn lừng danh của Mỹ như Sundar Pichai của Google, Satya Nadella của Microsoft, Arvind Krishna của IBM, Vivek Sankaran của Albertsons, Sanjay Mehrotra của Micron Technology, Ajaypal Singh Banga của MasterCard, Shantanu Narayan của Adobe, Indra Nooyi của PepsiCo (vừa về hưu sau 12 năm giữ chức vụ CEO),… đều là người gốc Ấn, trong đó có năm người sinh ra tại Ấn Độ.

Cách đây hai thập niên, Ấn là nước đầu tiên trên thế giới được các tập đoàn công nghệ Mỹ thuê gia công lập trình ứng dụng, một việc mà mãi về sau này Trung Quốc mới làm được. Một yếu tố quan trọng khác là so với Trung Quốc, Ấn Độ có thể chế chính trị hợp với "khẩu vị” của giới doanh nghiệp phương Tây hơn.

Ấn Độ đã triển khai những chương trình thúc đầy sản xuất nội địa “Make in India” và đào tạo nguồn nhân lực “Skill in India” để đáp ứng cho nhu cầu sắp tới của giới đầu tư nước ngoài. Đây là những ưu điểm nâng cao giá trị của Ấn Độ trong con mắt giới đầu tư quốc tế. Tính từ tháng 4-2018 đến tháng 3-2020, Ấn đã nhận được khoản đầu tư FDI trị giá 49,98 tỉ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Chính phủ Ấn Độ quyết tâm vươn lên để cạnh tranh vai trò cường quốc kinh tế với người láng giềng Trung Quốc, trước mắt là làm theo những gì Trung Quốc đã thực hiện rất thành công vào thập niên 1990 để thu hút đầu tư nước ngoài. Chính phủ Ấn đã cải tổ các chính sách thu hút đầu tư và ban hành thêm nhiều ưu đãi mới khá hấp dẫn.

Tuy vậy, mọi chuyện không phải là hoàn toàn thuận lợi và suôn sẻ cho người Ấn. Không chỉ trong một sớm một chiều mà Ấn Độ (và nhóm Mighty Five, trong đó có Việt Nam) có thể nhanh chóng thay thế vai trò quan trọng của Trung Quốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ấn Độ phải khắc phục được những nhược điểm mang tính cơ bản của đất nước đông dân thứ hai thế giới này. Đó là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng được yêu cầu của giới đầu tư phương Tây, Ấn Độ có lực lượng lao động dồi dào nhưng trình độ lại chênh lệch khá xa. Hạ tầng giao thông hiện nay của Ấn cũng cần được nâng cấp và xây dựng thêm.

Một vấn nạn khác là sự phân biệt giai cấp rất nặng nề của xã hội Ấn, sự chia rẽ trầm trọng về sắc tộc và tôn giáo, gây ảnh hưởng đến việc tuyển dụng, gây ra nhiều phức tạp trong bố trí môi trường làm việc và tinh thần hợp tác trong công việc.

Ấn Độ cũng chưa có được một “hệ sinh thái kinh tế” (ecosystem) hoàn chỉnh tương tự như của Trung Quốc, cung ứng đầy đủ lực lượng lao động có tay nghề, nguồn nguyên phụ liệu dồi dào, dịch vụ giao nhận vận chuyển thông suốt, máy móc thiết bị hiện đại đủ sức đáp ứng cho hoạt động thông suốt của những hãng xưởng, nhà máy của giới đầu tư nước ngoài tại Ấn.

Thuận lợi tuy nhiều nhưng khó khăn cũng không ít, vấn đề là người Ấn có khai thác thành công thời cơ đang đến để vươn lên tầm cường quốc kinh tế thế giới mà thôi. 

Tổng hợp từ CNN, The Diplomat, The Hindu, WB

Thiện Khang

Thứ Hai,  24/8/2020, 05:58 

Nguồn: Truy cập từ https://www.thesaigontimes.vn/td/307387/lieu-an-do-co-thay-duoc-cong-xuong-the-gioi-trung-quoc-.html


Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

Mặt khác của kiều hối



 

 

 

 

Việt kiều về thăm quê hương. Ảnh: MINH KHUÊ

(TBKTSG Xuân) - Hồi giữa năm qua, Hội Xã hội học Hoa Kỳ đã trao giải thưởng “Sách hay nhất năm 2015 về châu Á” cho tác giả người Việt là Thái Cẩm Hưng, Giáo sư Đại học Pomona (California) về một tác phẩm giàu chất liệu thực tế liên quan đến kiều hối, một đề tài nóng bỏng không chỉ với cộng đồng người Việt ở Mỹ mà cả với người trong nước.
Sách có tựa đề Insufficient Funds (tạm dịch Thiếu tiền) là công trình nghiên cứu rất công phu và có ý nghĩa sâu sắc, mà theo thông cáo báo chí của Đại học Pomona đây là “một tường thuật về tài chính của người di dân, một đóng góp lớn lao cho sự hiểu biết của chúng ta về sinh hoạt kiều hối”.
Thái Cẩm Hưng là một trong số không nhiều giáo sư ngành xã hội học gốc Việt ở Hoa Kỳ.Insufficient Funds là công trình thứ ba của ông sau hai luận án tiến sĩ đề tài “Việt kiều về nước kết hôn trong bối cảnh toàn cầu hóa” và “Gia đình trong thời toàn cầu hóa”.
Để thực hiện các công trình nghiên cứu này, Giáo sư Thái Cẩm Hưng đã cùng nhóm 12 người cộng sự làm việc tích cực hơn 10 năm qua. Riêng ông đã về nước khoảng 80 lần, gặp gỡ phỏng vấn hàng trăm người để tìm chất liệu sống cho các công trình nghiên cứu. Insufficient Funds nói về những khoản tiền do một số người Việt có thu nhập thấp đang sống ở Mỹ gửi về cho thân nhân ở quê nhà, biểu lộ tình cảm thắm thiết đến mức làm cho mối quan hệ gia đình của người Việt bị “tài chính hóa”.
Đây là những khoản tiền chắt chiu được trả giá đắt, bất chấp những bấp bênh tài chính của những gia đình chỉ ở trên mức nghèo theo tiêu chuẩn Mỹ. Họ tằn tiện tiêu xài để gửi về nước những đồng đô la vượt ngoài khả năng kiếm được, khiến nhiều người phải mắc nợ, thậm chí nhiều gia đình rạn nứt vì chuyện “kiều hối”, một sự hy sinh mà thân nhân ở bên này nửa vòng trái đất không hề biết đến.
Đây chẳng phải là chuyện hãn hữu khi mà một gia đình trung lưu ở Mỹ mỗi năm dành dụm được 10.000 đô la là không hề đơn giản. Điều đó giải thích tại sao nhiều người nhớ nhà da diết mà vẫn không về nước khi chưa kiếm đủ tiền làm quà tặng, cả “hiện vật” lẫn “hiện kim”, cho người thân. Rất may là áp lực đó nay đã không còn nặng như hàng chục năm trước.
* * *
Nhớ lại vào cuối thập niên 1970 thế kỷ trước, lần đầu tiên người trong nước nhận được những thùng quà biếu với nhiều loại hàng tiêu dùng, thuốc trị bệnh chuyển thành tiền, đã giúp hàng vạn gia đình trong nước vượt qua đời sống khó khăn.
Nếu cứ mãi trông chờ vào những đồng tiền không do mình làm ra chính là dựa dẫm vào người khác, tức là đánh mất lòng tự trọng. Đây không chỉ là chuyện của gia đình dòng họ mà cũng là chuyện của đất nước.
Sau mấy năm tự phát, đến 1983 kiều hối được chính thức thừa nhận và trở thành nguồn tiền ngoại nhập đáng kể cho nền kinh tế nhờ vào thuần tuý là tình cảm của người xa xứ đối với thân nhân.
Những năm đầu của thập niên 1990, số kiều hối ít ỏi chỉ khoảng 1 tỉ đô la Mỹ, mười năm sau tăng gấp đôi, vậy mà đến năm 2010 dù chịu ảnh hưởng cơn bão suy thoái kinh tế toàn cầu, tiền của người Việt ở nước ngoài gửi về cũng gần 7 tỉ đô la Mỹ. Lượng kiều hối tăng hàng năm với những hiệu ứng tích cực lẫn tiêu cực từ khi đồng tiền nghĩa tình chuyển hướng vào dòng chảy kinh doanh với không ít cạm bẫy và lọc lừa.
Năm 2015 vừa qua, kiều hối đã lên đến hơn 12 tỉ đô la Mỹ, trong đó khoảng 1,6 tỉ do 500.000 người đi lao động nước ngoài gửi về, trong phần còn lại thì một nửa xuất phát từ Mỹ - nơi số người Việt sinh sống nhiều nhất. Có điều gì đó trùng hợp khi lượng kiều hối đổ về tỷ lệ thuận với mức tăng các hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội đất nước, khiến một số chuyên gia có tâm huyết đặt vấn đề cần nhìn lại thực chất của kiều hối những năm gần đây.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên là chuyên gia cao cấp của Liên hiệp quốc, bằng phương pháp thống kê và đối chiếu số liệu từ nhiều nguồn, trong năm nay đã đưa ra một nghiên cứu cho thấy có một sự liên quan giữa kiều hối tăng mạnh và dòng chảy ngoại tệ ra nước ngoài lên đến 33 tỉ đô la Mỹ chỉ trong vòng sáu năm từ 2008-2013 là có thật.
Dẫn chứng bằng những số liệu cụ thể, ông cho rằng số tiền do người Việt ở nước ngoài với mức sống thấp gửi về theo con đường kiều hối thông thường như thống kê lâu nay là không thể tin được trong khi số lượng tiền lớn chuyển ra nước ngoài bất hợp pháp được “rửa sạch” qua con đường kiều hối là không nhỏ.
Có hai lý do chính giải thích tình trạng chảy máu ngoại tệ, một là giới nhà giàu trong nước chuyển ngân lậu ra nước ngoài để cho con ăn học, chữa bệnh hoặc tậu nhà đất ở Mỹ như một động thái chuyển dịch tài sản, hai là những khoản tiền để chi trả hàng nhập lậu từ Trung Quốc.
Một doanh nhân Việt kiều thành đạt sống tại Mỹ, có lần trong câu chuyện trà dư tửu hậu bày tỏ thắc mắc với một quan chức trong ngành ngoại giao Mỹ rằng trong khi chính phủ nước này tiêu tốn hàng tỉ đô la hỗ trợ cho cộng đồng người Việt còn khó khăn, thì lượng tiền kiều hối cứ liên tục gửi về Việt Nam ngày càng nhiều. Câu trả lời của quan chức này là nước Mỹ chẳng phải chịu thiệt đâu, rồi đây với thời gian thì dòng tiền chảy ngược về Mỹ sẽ còn nhiều hơn. Phải chăng đây là một lời giải thích có tính thuyết phục trong tình hình hiện nay.
Thật ra thì các số liệu và dẫn chứng của Tiến sĩ Vũ Quang Việt chỉ cho chúng ta hiểu thêm cặn kẽ về những gì liên quan đến chuyện ngược xuôi của đồng tiền bẩn lẫn đồng tiền sạch, trong đó kiều hối, dù dưới hình thức nào đi nữa, chẳng những không có tội tình gì mà ngược lại đã góp phần đáng kể cho GDP, thêm đồng vốn cho đời sống kinh tế - xã hội, giúp dự trữ ngoại hối tăng cao. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để một chính phủ có được những khoản vay quốc tế dễ dàng hơn, lãi suất thấp hơn khi người ta nhìn vào khả năng trả nợ. Thế nhưng vấn đề là những khoản tiền ấy phải đến đúng người, đúng chỗ để nạp thêm năng lượng cho cơ thể kinh tế đang lúc phục hồi và làm ra của cải vật chất mà xã hội cần, nếu không như thế thì chẳng khác nào đưa thức ăn bổ dưỡng vào nuôi các tế bào ung thư trong cơ thể con người.
Cần nhìn thẳng vào thực tế là thế hệ thứ hai thứ ba của cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày càng nhạt nhòa tình cảm với quê hương cũng như thân nhân trong nước, để đừng ảo tưởng kiều hối là nguồn lợi bất tận, mà tùy thuộc vào những diễn biến tích cực mọi mặt từ trong nước.
Làm sao cho các thế hệ người Việt ở nước ngoài “xa mặt mà không cách lòng” để còn gắn bó với quê nhà? Chỉ có một cách là tạo được niềm tự hào dân tộc và lòng tin vào tương lai của đất nước ngày mai sáng sủa hơn ngày hôm nay. Làm được điều này thì dòng kiều hối sẽ không ngừng chảy. Bằng không thì các thế hệ con cháu chúng ta rồi đây nếu về thăm quê hương cũng trong tâm thế của một du khách đến miền đất lạ. Và khi ấy nếu cứ mãi trông chờ vào những đồng tiền không do mình làm ra chính là dựa dẫm vào người khác, tức là đánh mất lòng tự trọng.
Đây không chỉ là chuyện của gia đình dòng họ mà cũng là chuyện của đất nước.

Trần Trọng Thức

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 05/02/2016 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/141398/Mat-khac-cua-kieu-hoi.html. 

“Tiền là tiên là Phật...?”

(TBKTSG XUAN) - Xin thưa: còn hơn thế nữa! Tiền là ông Trời, là “Thượng Đế của thời đại chúng ta” (G. Simmel); thời đại ấy “đã thay thế sự toàn năng của Thượng Đế bằng sự toàn năng của đồng tiền” (N. Luhmann).
Simmel còn minh họa dễ hiểu: ngày trước, tòa nhà cao nhất ở các đô thị là giáo đường, nay là... các ngân hàng! “Chúng khẩu đồng từ”, nếu ta nhớ rằng Georg Simmel thuộc thế hệ đầu tiên của những nhà xã hội học Đức, còn Niklas Luhmann sống đồng thời với chúng ta. Nhiều nhà thần học vốn không chịu “thờ hai chúa” (Thượng Đế và... Thần Tài/Mammon) cũng phải cay đắng thừa nhận một “chủ nghĩa phiếm thần thờ đồng tiền” và đồng tiền trở thành “thực tại tối cao, quy định tất cả”, một danh xưng chỉ được dành cho Thượng Đế trước đây! Một sự “soán ngôi” vô tiền khoán hậu? Một cách nói thậm xưng? Dù hiểu cách nào, đây là một thực tế cần nhận diện, cần suy tưởng từ nhiều giác độ: kinh tế học, xã hội học, nhân học và triết học.
Ngày xuân, thử bàn phiếm đôi điều về đồng tiền như một thực tại thường trực trong đời sống, một sản phẩm lâu đời nhưng tiêu biểu cho thời hiện đại. Nó mang lại cho cuộc đời nhịp điệu và vẻ hấp dẫn đặc thù, đồng thời cả cách nhìn nhận đặc thù về thế giới và chỗ đứng của ta trong đó. Tiền tạo ra vô số vấn đề khi ta thiếu nó, và càng nhiều vấn đề hơn khi ta có nó. Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng ta có thể làm chủ được nó. Quyền lực của ta đối với đồng tiền có chăng chỉ là cố hiểu quyền lực của nó trên ta. “Chủ đề về tiền đã lôi cuốn bao nhà thông thái từ thời Aristoteles cổ đại cho đến ngày nay bởi nó đầy bí mật và nghịch lý” như The New Encyclopedia Britannica, 1985, nhìn nhận.
BẢN CHẤT CỦA ĐỒNG TIỀN?
Tìm hiểu bản chất của đồng tiền cực khó, bất chấp nỗ lực từ bao thế kỷ của các nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà văn và cả... nhà thơ lẫn triết gia! Nó là thiện hay ác? Nó được ca tụng và mơ ước lẫn bị khinh bỉ và xa lánh. Nó sáng tạo và phá hủy, hợp nhất và phân ly, biến bạn thành thù và ngược lại. Nó ảnh hưởng quyết định đến sinh mệnh của từng cá nhân và quốc gia, mang lại sự tự do hay lệ thuộc. Nó gây nên bao cung bậc cảm xúc khác nhau. Nói ngắn, con người tạo ra tiền và tiền tạo ra con người, cả về cách sống lẫn cách suy nghĩ. Có hiện tượng xã hội nào kỳ lạ hơn thế không?
VAI TRÒ SONG ĐÔI
Là đối tượng của nhận thức, tiền thuộc lĩnh vực kinh tế học với mục tiêu và phương pháp riêng của nó. Dưới cái nhìn này, tiền là phương tiện trao đổi. Nhiệm vụ của kinh tế học là xem nền kinh tế cần bao nhiêu tiền và những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc cung và cầu tiền. Phương pháp của nó chủ yếu là định lượng.
Nhưng, ta dễ thấy ngay rằng phương pháp định lượng hay “toán học hóa” là không đủ để khám phá bí mật của đồng tiền xét như một hiện tượng xã hội. Cần bổ sung vào đó những phân tích định tính. Từ đó, ta có quyền nói về một môn xã hội học, hay, hơn thế, một triết học về đồng tiền. Trong giác độ ấy, tiền không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích của trao đổi. Là phương tiện, tiền góp phần phát triển thương mại, mở rộng sự vận động của hàng hóa, dịch vụ. Nhưng, là mục đích, tiền ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của chính con người, đến mục tiêu và thái độ hành động. Tiền thay đổi cả định hướng về giá trị, ý tưởng lẫn những tiêu chuẩn đạo đức.
Aristoteles sớm nhận ra vai trò song đôi này của đồng tiền, xem cái trước là “tự nhiên”, cái sau là “phản tự nhiên” và vô độ. K.Marx tìm hiểu bản chất của đồng tiền, cho thấy tiền - hiểu như mục đích của trao đổi - đã chuyển hóa thành tư bản như thế nào. Cũng thế, G. Simmel, mà ta sẽ trở lại, nhấn mạnh tác động kinh khủng của đồng tiền lên hành động của con người khi trở thành mục đích của trao đổi. “Tính phân cực nội tại trong bản chất của đồng tiền nằm ở chỗ nó là phương tiện tuyệt đối, nhưng qua đó, về tâm lý, trở thành mục đích tuyệt đối của vô số người, và lạ thay, thành biểu trưng khiến những định hướng quan trọng khác trong cuộc đời đều bị đông cứng lại”(1). “Sứ mệnh lịch sử” của tiền không chỉ tạo ra nền kinh tế thị trường, mà còn tạo ra “con người kinh tế” (có thật có không?) với tâm thế được Max Weber gọi là “tinh thần của chủ nghĩa tư bản” (dù tiền không phải là sản phẩm đặc thù của chủ nghĩa tư bản). Nói cách khác, tiền không chỉ thay đổi “thế giới sự vật” và “thế giới con người” mà cả thế giới nội tâm của con người: lợi ích, lý tưởng, cảm hứng, khát vọng, thước đo luân lý, đạo đức. Tiền thay đổi hệ giá trị bằng cách ban cho mình giá trị phổ biến.
Nhưng, “giá trị” lại là khái niệm bí hiểm nhất trong kinh tế học, có lẽ do nó là khái niệm mang tính “triết học” nhiều nhất! Georg Simmel, trong “Triết học về đồng tiền” (1900), là người đầu tiên tiếp cận vấn đề bằng con mắt triết học sâu sắc. Ông triết gia Kant vẫn còn cương quyết phân biệt giữa giá cả và giá trị: “Mọi vật đều có một giá cả. Nhưng, giá trị là vô giá,
Với tư cách là “giá trị phổ biến”, tiền hành động như là động lực cho mọi loại hoạt động, kể cả hoạt động phi nhân tính. Những gì không nên mua bán trở thành sản phẩm có thể mua bán. Trong chừng mực đó, tiền mang lại sự bất an và rối loạn xã hội, thách thức nền tảng giao tiếp và quan hệ đạo lý.
bởi nó là phẩm giá!”. Nhưng, từ khi trở thành vật ngang giá, tiền là giá cả tương đối của một món hàng, đồng thời bản thân tiền là một giá trị bởi có thể được sử dụng mọi lúc mọi nơi. Tiền cào bằng tất cả, bởi nó không đếm xỉa đến cái đặc thù. Lượng thắng chất. “Tiền diễn đạt mọi sự khác biệt về chất của sự vật bằng câu hỏi: “Bao nhiêu”? Tiền, với sự dửng dưng vô màu sắc, trở thành mẫu số chung của mọi giá trị. Nó làm rỗng cái cốt lõi của sự vật, tước bỏ tính cá biệt, giá trị riêng và tính vô ước (tức không thể so sánh được với nhau) của sự vật. Mọi thứ trôi tuột với cùng một trọng lượng riêng giống nhau trong dòng chảy không ngừng của đồng tiền. Mọi vật đều nằm trên cùng một cấp độ và chỉ khác nhau ở phạm vi tác động của chúng mà thôi”. Là cái ngang giá, tiền chuyển từ phương tiện thành mục đích tự thân tuyệt đối, một cách nói khác về phẩm giá của... Thượng Đế! Không cần mang hình thức giá trị “đích thực” của kim loại quý, tiền vẫn có giá trị danh nghĩa như một ký hiệu, biểu trưng có giá trị tối cao như phương tiện và mục đích trao đổi. Vậy, giá trị của tiền không ở hình thức của nó mà ở nội dung của tiến trình xã hội được nó vận hành. Là một vật, tiền đi từ túi người này sang túi người khác, và đó là “nguồn gốc cho sức mạnh vô biên của tiền đối với xã hội”. Cơ chế vận hành của nó được tóm lược trong hai hành động: chiếm hữu và xuất nhượng, căn cứ trên năng lực chi trả. Tiền là “thước đo của giá trị” và là “thước đo của vạn vật”. Bấy giờ, với tư cách là “giá trị phổ biến”, tiền hành động như là động lực cho mọi loại hoạt động, kể cả hoạt động phi nhân tính. Những gì không nên mua bán trở thành sản phẩm có thể mua bán. Trong chừng mực đó, tiền mang lại sự bất an và rối loạn xã hội, thách thức nền tảng giao tiếp và quan hệ đạo lý.
TỰ DO VÀ THA HÓA
Trong nền kinh tế tiền tệ, cá nhân cũng chuyển hóa tương tự như những hệ giá trị khi chúng được tác động bởi đồng tiền. Con người - giống như đồng tiền - trở nên “bình đẳng”, độc lập và năng động với cái giá phải trả là mất đi cái bản sắc cố định và riêng biệt. “Tiền thực chất là hình thức sở hữu hiệu quả nhất để giải phóng cá nhân ra khỏi những sợi dây ràng buộc so với các hình thức sở hữu khác”. Con người thoát khỏi sự ràng buộc vào một loại lao động và một lối sống nhất định, giống như giá trị của đồ vật từ nay chỉ cần thể hiện bằng tiền mặt một cách trung tính. Ở đây, G.Simmel có nhận xét tinh tế: trong nền kinh tế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp, tưởng như chống lại sức mạnh của đồng tiền, thì “thật ra vẫn vận động theo cùng một hướng là biến cá nhân ngày càng phụ thuộc vào thành quả của người khác và càng ít phụ thuộc vào “những nhân cách” đứng sau lưng họ. Cả hai hiện tượng có cùng một nguồn gốc và tạo nên các mặt đối lập của một và cùng một tiến trình: sự phân công lao động hiện đại cho phép sự lệ thuộc tăng lên, đồng thời làm cho “nhân cách” tiêu biến đàng sau các chức năng của họ”. “Tiền và giao dịch tiền tệ càng tăng thì giá trị của cá nhân càng giảm, và câu hỏi trở thành: cá nhân có thể làm gì, thay vì cá nhân ấy là ai; mọi việc quy thành tiền thay vì giá trị của xúc cảm nhân loại”.
TIỀN VÀ LÝ TRÍ
Tiền, bằng sức mạnh vật chất, thỏa mãn ý muốn tự do của con người thông qua cơ chế thị trường. Nhưng, tiền, kỳ cùng, vẫn không thể quyết định mục đích của ý muốn ấy. May mắn là: lĩnh vực này thuộc thẩm quyền của lý trí. Tất cả phụ thuộc vào sự đối ứng giữa hai lực lượng: lý trí và lợi ích tiền bạc trong hoạt động có mục đích của con người. Tiền là điều kiện cần để hợp lý hóa hành động. Nhưng, ta có thể đồng ý với Simmel khi tin rằng “trí tuệ xã hội” đồng hành với nền kinh tế tiền tệ, buộc xã hội phải thấu hiểu vị trí và vai trò của đồng tiền trong xã hội để “cầm cương” đứa con khủng khiếp (“enfant terrible”) của chính mình. Ngày càng thấy cần thiết kết hợp giữa kinh tế học hướng đến hành động thực tiễn và triết học hướng đến suy tưởng để nhận thức thế giới như một toàn bộ. Tìm hiểu đồng tiền không chỉ để điều tiết thị trường mà còn để phục vụ sự phát triển xã hội. Là sản phẩm của nền văn minh, đồng thời là công cụ cho sự phát triển xã hội, tiền là yếu tố then chốt xác định những giới hạn của tự do và bình đẳng trong nền kinh tế tiền tệ.
Tiền không mang lại hạnh phúc, hiểu theo nghĩa tuyệt đối? Tiền có thể “cứu khổ cứu nạn”, tức mang lại hạnh phúc theo nghĩa tương đối? Nhưng ranh giới đó ở đâu? Một câu hỏi thú vị cho điều tra xã hội học và tâm lý xã hội(2).
Con người là sinh vật hữu hạn, song lại không có giới hạn. Bao giờ con người cũng có cái gì đó trước mắt để vượt qua và sở dĩ nó “có đó” là để được vượt qua. Con người vượt qua chính mình là vượt thoát những ranh giới, ràng buộc đang đặt ra cho mình. Có những ông bà tỉ phú đang nơm nớp ở Trung Quốc. Lại có chàng tỉ phú trẻ măng ở Mỹ hớn hở dành hết tài sản khổng lồ cho an sinh xã hội. Nói theo kiểu Camus, ta “phải tưởng tượng” chàng này đang rất hạnh phúc vì chưa lúc nào chàng có quyền quyết định tự do đến như thế. Một tác giả nhận định: “Triết lý về đồng tiền có thể góp phần “giáo dục” nhân loại và giúp họ nhớ lại rằng “thước đo của vạn vật” bao giờ kỳ cùng cũng là chính con người” (Protagoras). Ít ra là... đối với đồng tiền!
--
(1)Các trích dẫn đều từ: Georg Simmel, Triết học về đồng tiền / Philosophie des Geldes, 1900.
(2)Kết quả thăm dò từ Princeton dựa trên 450.000 người cho thấy, ở Mỹ, “người ta có sức khỏe tinh thần tốt khi thu nhập ở mức 75.000 đô la/năm, không cao hơn”! Xem: BBC (25-6-2015): Tiền và hạnh phúc: Mối quan hệ bí mật.

Bùi Văn Nam Sơn

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online ngày 08/02/2016 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/141780/Tien-la-tien-la-Phat.html. 

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2016

Cần nhìn nhận một cách biện chứng về chủ nghĩa tư bản

Một góc Silicon Valley. Những trung tâm kinh tế của Mỹ như Boston, New York và Silicon Valley chính là những cỗ máy tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên tri thức hàng đầu thế giới. Ảnh: Internet

(TBKTSG) - Với những diễn biến phức tạp đang xảy ra trên thế giới, rất có thể, nhận xét tương tự hoặc gay gắt hơn về chủ nghĩa tư bản (CNTB) lại xuất hiện.

Trên thực tế, mô hình TBCN luôn tiến hóa và phát triển để tạo dựng cuộc sống giàu có cho nhiều cộng đồng và tiến bộ nhân loại. Nhìn vào hai thái cực là thị trường tự do ở Mỹ và xã hội thị trường ở các nước Bắc Âu cho thấy rất rõ điều này.

Mô hình thị trường tự do kiểu Mỹ
Hoa Kỳ là một hình mẫu của thị trường tự do với những trục trặc cứ lặp đi lặp lại (nhất là các cuộc khủng hoảng do sự vị kỷ của con người gây ra). Tuy nhiên, có một điều không thể phủ nhận là nước Mỹ liên tục phát triển và khẳng định vị trí siêu cường của mình.

Nhìn suốt chiều dài lịch sử nhân loại, nhất là trong ba thế kỷ trở lại đây, Acemoglu và Robinson (trong tác phẩm Tại sao các quốc gia thất bại) cho rằng: “Có rất ít nghi ngờ rằng trong 50 năm, thậm chí 100 năm nữa, Hoa Kỳ và Tây Âu, dựa trên các thể chế kinh tế và chính trị dung nạp, sẽ giàu hơn, khả năng giàu hơn rất nhiều các nước thuộc tiểu vùng Sahara, Trung Đông, Trung Mỹ và Đông Nam Á”.

Nền kinh tế Hoa Kỳ dựa trên bốn lợi thế cơ bản gồm: kinh tế, thể chế, nguồn nhân lực và địa chính trị. Thể chế đã được thiết kế để tạo ra những cuộc đua minh bạch để cuối cùng tài năng hay các nguồn lực xã hội được khai thác và sử dụng hợp lý.

Mô hình phi tập trung với quyền tự chủ rất cao đến từng thị trấn nhỏ đã phát huy tác dụng. Các địa phương ở Mỹ luôn phải cạnh tranh quyết liệt với nhau trong điều kiện không có rào cản và ngày nay còn phải cạnh tranh với các nơi khác trên thế giới nên những quyết định hợp lý có lợi cho nhiều người vẫn thường xuyên được đưa ra thay vì hầu hết là các quyết định chỉ có lợi cho những nhóm nhỏ.

Sức cạnh tranh hay sức hút của những trung tâm kinh tế của Mỹ như Boston, New York và Silicon Valley vẫn đang hết sức mãnh liệt. Đây chính là những cỗ máy tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên tri thức hàng đầu thế giới này.

Một điểm rất quan trọng khác là các tổ chức xã hội được tự do phát triển và bắt rễ rất chắc ở Mỹ. Trụ cột này có vai trò hết sức quan trọng trong xã hội Mỹ. Các hoạt động từ thiện, vì cộng đồng ở Mỹ rất đa dạng. Chỉ riêng số tiền đóng góp theo kiểu mạnh thường quân đã vào khoảng 2% GDP (gấp gần hai lần GDP của Việt Nam). Những nhà đại tư bản như Bill Gates, Warren Buffett và Mark Zuckerberg đã hiến phần lớn tài sản của mình cho xã hội.

Tư hữu là động lực phát triển của xã hội. Những nhà đại tư bản giàu có ở nước Mỹ hay trên thế giới có được những giá trị tài sản khổng lồ là nhờ việc tạo ra một giá trị lớn hơn rất nhiều cho nhân loại chứ không phải đi bóc lột của người khác. Hơn thế, họ đang dùng tài sản của mình để có những việc làm thiết thực cho sự phát triển của xã hội chứ không phải chỉ giữ khư khư cho mình.

Tuy nhiên, nền chính trị Hoa Kỳ hiện đang có vấn đề rất nghiêm trọng như Yasheng Huang đã phân tích: “Nền chính trị tiền bạc ở Mỹ là một vấn đề rất lớn và quả thật nó đang khiến cho chế độ như một cỗ máy hỏng nặng, không còn vận hành trơn tru... Nó hỏng hóc chính là vì về cơ bản nó đối nghịch với dân chủ. Nền chính trị tiền bạc là hình thái lệch lạc của dân chủ. Nó phá hoại và làm mất giá trị một trụ cột chuẩn mực của dân chủ - một người một phiếu”.

Thêm vào đó, bất bình đẳng gia tăng cũng là một vấn đề nghiêm trọng khác của Mỹ. Những người giàu đang có được phần nhiều hơn trong miếng bánh xã hội. 1% số người có thu nhập cao nhất của Mỹ chiếm đến 18,3% tổng thu nhập; và trong giai đoạn 2009-2012, thu nhập của nhóm này tăng đến 31%, trong khi 99% còn lại chỉ tăng 1% và 90% thu nhập bị giảm.

Sự giằng co trong các vấn đề liên quan đến luật bảo hiểm y tế mới của Mỹ mà nó có lợi cho hầu hết người nghèo hay sự cực đoan đến mức đề xuất cấm cửa những người theo đạo Hồi ở Mỹ của ứng viên Đảng Cộng hòa Donald Trump trong cuộc bầu cử năm 2016 sắp tới cho thấy những vấn đề của nước Mỹ.

Mô hình các nước Bắc Âu
Chỉ có khoảng 25 triệu người nằm ở các rẻo đất hẹp, nhưng mô hình nhà nước phúc lợi ở các nước Bắc Âu rất được chú ý. Trong gần như tất cả các xếp hạng về mức độ phát triển của các quốc gia trên thế giới, nhìn chung họ đều thuộc nhóm có vị thứ cao nhất.

Nghiên cứu vào năm 2007 của Viện Nghiên cứu kinh tế Phần Lan đã chỉ ra rằng: “So sánh một cách tổng thể với các nước khác, các nước Bắc Âu tốt hơn khi kết hợp hiệu quả kinh tế và tăng trưởng với thị trường lao động nhân bản, phân phối thu nhập công bằng và cố kết xã hội. Mô hình này tạo ra nguồn cảm hứng cho nhiều người tìm kiếm một hệ thống kinh tế - xã hội tốt hơn... Ở chiều ngược lại, điều làm cho nhiều người ngạc nhiên là tại sao các nước Bắc Âu có thể trở nên thịnh vượng và tăng trưởng tốt với các khuyến khích kinh tế được xem là yếu đi cùng với thuế suất rất cao, một hệ thống an sinh xã hội hào phóng và chế độ phân phối bình quân”.

Theo logic thông thường, sưu cao thuế nặng (khoảng 50%) sẽ làm giảm động cơ làm việc của người lao động và phúc lợi xã hội cao mà không phải làm gì khiến người ta lười hơn. Tuy nhiên, người dân ở các nước Bắc Âu vẫn chăm chỉ làm việc để đưa quốc gia của họ đi đến phồn vinh. Các khoản thuế đang được sử dụng rất hiệu quả tạo ra một hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội hào phóng. Dường như chủ nghĩa tư bản vị kỷ và chủ nghĩa xã hội vị tha đang tồn tại ở đó.

Chính sách mỗi nước là rất khác nhau, nhưng tựu trung, có năm yếu tố then chốt tao ra sự thành công của các nước Bắc Âu gồm:
Thứ nhất, tuân thủ các quy luật của thị trường tự do. Trường phái ủng hộ thị trường tự do luôn có những vị trí quan trọng trong chính phủ. Sự phân bổ nguồn lực theo các quy luật của thị trường được tận dụng tối đa, các doanh nghiệp tư nhân có quyền cạnh tranh bình đẳng với các nhà cung cấp của chính phủ.

Thứ hai, trọng dụng nhân tài. Ví dụ, ngay từ năm 1840, Thụy Điển đã bãi bỏ các ưu tiên cho tầng lớp quý tộc vào các chức danh của nhà nước và tạo ra một dịch vụ dân sự trọng dụng người tài và không có tham nhũng. Rất nhiều người tài đã vào làm việc tại khu vực công ở các nước này và đây được xem là vinh hạnh của họ.

Thứ ba, tính thực tế và ý chí sắt đá là nền tảng tạo ra một chính phủ minh bạch và trung thực. Khi phát hiện ra trục trặc thì cả hệ thống chính trị đã được huy động để tìm giải pháp và điều chỉnh sao cho hợp lý hơn. Các đồng thuận mới có thể thay thế những nguyên tắc cũ kỹ, lỗi thời một cách dễ dàng. Kết quả, mô hình phát triển luôn được điều chỉnh và cập nhật.

Thứ tư, vốn xã hội làm giảm chi phí giao dịch. Sự kết hợp của địa lý và lịch sử đã tạo ra hai nguồn vốn cực kỳ quan trọng trong xã hội đó là sự tin tưởng vào người lạ và niềm tin vào các quyền tự do cá nhân. Đây là vốn xã hội rất quý mà nó giúp giảm thiểu đáng kể các chi phí giao dịch - một rào cản rất lớn làm giảm hiệu quả kinh tế.

Thứ năm, tự chủ cá nhân là một trong những yếu tố then chốt. Sự kết hợp của một quy mô nhà nước lớn với chủ nghĩa cá nhân có vẻ gì đó phi lý đối với nhiều người, nhưng ở các nước Bắc Âu lại không phải là vấn đề lớn. Người dân ở đó cho rằng vai trò của chính phủ là thúc đẩy quyền tự chủ cá nhân và sự vận động của xã hội. Mỗi người được đeo đuổi những mục tiêu ưa thích của mình và không bị ràng buộc hay phụ thuộc vào người khác.

Công thức thành công của các nước Bắc Âu không có gì là bí mật. Tôn trọng các quy luật của thị trường tự do, tôn trọng tự do của các cá nhân và một nhà nước hữu hiệu vì lợi ích của người dân là chìa khóa thành công. Tuy nhiên mô hình này rất khó bắt chước. Hơn thế, mô hình này hiện đang gặp nhiều thách thức với tiến trình toàn cầu hóa, người nhập cư gia tăng làm cho tính đồng nhất trong xã hội ở các nước này giảm đi.

Tóm lại, CNTB đang vận động và tiến hóa để tạo dựng những xã hội hay cộng đồng ngày một văn minh và nhân văn hơn. Tư hữu là động lực của sự phát triển và tiến bộ nhân loại. Do vậy, để có thể trở nên phát triển, Việt Nam cần nhìn nhận vấn đề này một cách biện chứng.

Huỳnh Thế Du

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ngày 10/01/2016 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/140774/Can-nhin-nhan-mot-cach-bien-chung-ve-chu-nghia-tu-ban.html. 

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) có liên quan gì đến bạn không?

(TBKTSG) - Cái mặc cảm không biết gì về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) không chỉ luẩn quẩn trong đầu nhiều doanh nhân; nó còn ám ảnh người có chút áy náy về chuyện thế sự. Hôm nay, ngày 31-12-2015, AEC chính thức hình thành - một cột mốc quan trọng như thế mà mình không biết gì về nó cả.

Thật ra nhiều người dân ASEAN cũng tự vấn như thế - nên mới có các phần hỏi đáp trên nhiều báo. Ví dụ, câu hỏi nhiều người đặt ra nhất là AEC có giống Liên hiệp châu Âu (EU) không? Mới nhìn qua thì AEC cũng giống EU lúc mới hình thành cái gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu vào năm 1957 nhưng về bản chất thì khác hẳn. AEC không có kế hoạch cho ra đời đồng tiền chung, không có một ngân hàng trung ương chung, không có nghị viện chung nên nói là cộng đồng kinh tế nhưng chưa có sự gắn bó chặt chẽ như EU hiện nay. 
Với người bình thường, có lẽ mối quan tâm gói gọn vào một số chuyện cụ thể mà đầu tiên là công ăn việc làm. Liệu AEC ra đời có thúc đẩy các dòng di dân tìm việc làm ở quy mô lớn mà thực tế hiện đang xảy ra như công nhân Việt Nam qua Thái Lan hay Malaysia làm việc?
Thực tế ở giai đoạn đầu này, AEC chỉ chú trọng vào việc dịch chuyển lao động có tay nghề chứ lao động phổ thông không nằm trong mối quan tâm của các nhà làm chính sách. Cho đến nay chỉ có người làm 8 nghề chuyên môn là được quyền chuyển đổi nơi làm việc bên trong ASEAN, chiếm 1,5% tổng lực lượng lao động của ASEAN, gồm bác sĩ, y tá, nha sĩ, kỹ sư, trắc địa viên, người làm trong ngành du lịch, kế toán và kiến trúc sư.
Nhưng quá trình này không phải tự nhiên theo kiểu ưa làm ở nước nào thì làm mà tùy điều kiện từng nước đặt ra trước khi công nhận lẫn nhau. Ví dụ ở Malaysia những người làm nghề chuyên môn này phải có ít nhất 10 năm kinh nghiệm và phải được một công ty sở tại bảo lãnh.
Chính ở lĩnh vực này, dự báo sẽ có nhiều chuyển biến do AEC đem lại. Sẽ có nhiều bạn trẻ sang các nước ASEAN khác để làm việc trong ngành du lịch, khách sạn, nhà hàng và ngược lại các công ty lữ hành nước ngoài cũng sẽ đem nhân sự của chính họ vào Việt Nam. Nhiều công ty có vốn đầu tư nước ngoài, hiện đang gặp khó khăn trong tuyển dụng nhân sự bậc trung sẽ chuyển sang tìm chuyên viên kế toán, giám đốc tài chính… từ các nước lân cận.
Dù sao đây là sức ép cạnh tranh rất cần thiết để giới trẻ phải tự hoàn thiện mình trong cả kiến thức, tay nghề, ý thức lao động lẫn khả năng tiếng Anh, khả năng làm việc nhóm. Sức ép này sẽ dội vào các trường đại học, không thể ngồi yên trong tháp ngà được nữa rồi.
Cái mà AEC hướng đến nhằm xây dựng một thị trường chung và một khu vực sản xuất chung là việc dịch chuyển tự do lao động có tay nghề. Nếu Việt Nam cứ chăm chăm vào xuất khẩu lao động phổ thông thì xem như thua.
Đã có những câu chuyện từ thực tế được đăng tải trên Facebook, nào là chuyện hành khách một chuyến bay nội địa ngạc nhiên trước sự nhiệt tình và chuyên nghiệp của một tiếp viên hàng không nam; hóa ra đây là một tiếp viên người Thái mà hãng này mới tuyển dụng. Thật mỉa mai khi sự phục vụ bình thường của một tiếp viên như ân cần giúp hành khách xếp va li lên ngăn đựng hành lý, hướng dẫn cặn kẽ cách cài khóa an toàn cho người lớn tuổi, quan sát xem có ai cần giúp đỡ thì nhanh nhẹn tiến đến giúp… lại gây ngạc nhiên ở người quan sát. Đến khi biết anh này là người Thái thì lại ồ lên, ra vẻ thì ra thế!
Kiểu như thế chẳng mấy chốc doanh nghiệp trong nước vì khách hàng, vì hiệu quả công việc mà sẽ nhắm đến tuyển dụng nhân sự từ các nước láng giềng chăng? Do đâu tính chuyên nghiệp ở người lao động nước ta ngày càng dần mai một trong khi sự làm dối, làm ẩu lại lan tràn. Ở đâu, trong môi trường nào, nhân viên Việt Nam học được lương tâm chức nghiệp, cách hành nghề chuyên nghiệp, cách ứng xử đúng chuẩn mực quốc tế?
Và từ câu chuyện dòng chảy lao động có thể sẽ được tự do lưu chuyển nội vùng ASEAN trong những năm sắp tới mà nhìn lại tệ nạn chạy việc ở nước ta mới thấy nguy cơ tụt hậu lớn như thế nào.
Giả dụ cứ đặt một bên là cái bệnh viện phải tìm mọi cách tuyển cho được bác sĩ giỏi, kể cả chuyên gia từ nước ngoài về và một bên là cái bệnh viện ai muốn vào làm, dù là y tá thôi chứ chưa nói đến bác sĩ đã phải “chạy việc” tốn cả trăm triệu.
Giả dụ một hệ thống trường học mà giáo viên toàn phải bỏ tiền ra bôi trơn mới được nhận vào rồi một hệ thống trường học có thể phải tuyển giáo viên từ Philippines để dạy tiếng Anh với mức lương phải trả cao hơn giáo viên sở tại.
Không cần so sánh, ắt ai cũng thấy con đường lên xuống của hai dạng tuyển dụng này là như thế nào. Thế tại sao nạn chạy việc vẫn phổ biến; không lẽ người đứng đầu các đơn vị cần tuyển dụng không hiểu được chất lượng bộ máy sẽ phụ thuộc vào chất lượng nhân sự mà họ tuyển dụng.
Nhìn rộng hơn, chắc chắn sẽ đến lúc AEC đồng ý công nhận lẫn nhau nhiều ngành nghề hơn nữa và để chuẩn bị cho việc đó, ASEAN có soạn thảo bộ khung tham chiếu tay nghề mà các nước trong khối rồi sẽ phải dựa vào để soạn thảo chương trình đào tạo cho nước mình. Điều đó không biết Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các trường đại học, các trường dạy nghề đã nhắm tới để đưa vào kế hoạch của mình chưa? Chẳng hạn chuyện lình xình quanh việc cho phép trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ mở ngành y đa khoa, vấn đề không phải là bộ này hay bộ kia ủng hộ; vấn đề là đầu ra của trường có đáp ứng được các yêu cầu về tay nghề để được các nước khác công nhận hay không.
Ở góc độ khác, để tránh cảnh người dân bị quyến dụ bởi cái nhãn “bác sĩ ngoại” mà không biết thực chất tay nghề của các bác sĩ này là thế nào, liệu Việt Nam đã soạn thảo lộ trình công nhận bác sĩ các nước ASEAN hay chưa? Ví dụ Philippines đề ra yêu cầu bác sĩ, nha sĩ phải có năm năm kinh nghiệm hành nghề, còn y tá là ba năm. Ở các nước chưa có những thỏa thuận nhận lao động của nhau, doanh nghiệp nào muốn tiếp nhận lao động nước ngoài phải ưu tiên tuyển dụng lao động của nước sở tại trước, đến khi đăng báo tuyển người không ra mới được phép tuyển lao động từ nước khác đến. Những quy định ấy nước ta cũng có nhưng hầu như không ai thực thi cho đến nơi đến chốn.
Nói tóm lại, cái mà AEC hướng đến nhằm xây dựng một thị trường chung và một khu vực sản xuất chung là việc dịch chuyển tự do lao động có tay nghề. Nếu Việt Nam cứ chăm chăm vào xuất khẩu lao động phổ thông thì xem như thua: không những không gửi được người sang làm ở các nước AESAN khác mà sẽ phải tiếp nhận dòng chảy các loại chuyên viên cấp trung và cấp cao từ nước khác. Có lẽ điều này sẽ có tác động lớn lên xã hội chứ không phải chuyện thuế má vì thuế thực chất đã giảm từ trước khi ra đời AEC.

Thực tế dòng chảy lao động trong khối ASEAN không như AEC hình dung. Bởi đến 87% lao động dịch chuyển nội khối là lao động phổ thông. Năm hành lang dịch chuyển chính bao gồm: Myanmar sang Thái Lan; Indonesia sang Malaysia; Malaysia sang Singapore; Lào qua Thái Lan và Campuchia cũng qua Thái Lan. Sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN được kỳ vọng sẽ tạo ra thêm 14 triệu chỗ làm tính đến năm 2025.

Nguyễn Vạn Phú

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/140499/AEC-co-lien-quan-gi-den-ban-khong.html ngày 31/12/2015.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Kinh tế thế giới 2014 qua các thống kê

Trong khi Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới có nhiều dấu hiệu rõ rệt về phục hồi, bức tranh tại phần còn lại của thế giới lại trở nên u ám.

Kinh tế thế giới 2014 qua các thống kê
Nguồn: Economist

Nguồn: VN Express ngày 27/12/2014 truy cập từ http://vnexpress.net/infographic/quoc-te/kinh-te-the-gioi-2014-qua-cac-thong-ke-3126615.html. 


Toàn cảnh kinh tế Việt Nam 2014

Tổng cục Thống kê ước tính tổng sản phẩm trong nước 
(GDP) năm nay ước tăng 5,98% - cao nhất kể từ năm 2011.

Toàn cảnh kinh tế Việt Nam 2014
Đồ họa: Việt Chung
Nguồn: VN Express ngày 27/12/2014 truy cập từ http://vnexpress.net/infographic/doanh-nghiep/toan-canh-kinh-te-viet-nam-2014-3126650.html. 

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Nửa đầu năm 2014: GDP tăng cao nhất trong ba năm









Khu vực doanh nghiệp FDI và ngành sản xuất công nghiệp điện tử là những điểm sáng trong hoạt động kinh tế 6 tháng đầu năm nay. Ảnh TL SGT
 
(TBKTSG Online) - Hôm nay 27-6, Tổng cục Thống kê đã công bố báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2014; theo đó tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 5,18%, cao hơn nửa đầu năm 2013 và 2012.
 
Theo nhận định của Tổng cục Thống kê, "Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm nay diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp cả về kinh tế và chính trị... Trong đó, đáng chú ý là quá trình tái cơ cấu kinh tế diễn ra thiếu đồng bộ và chưa thực sự có những bước đi hiệu quả. Ngoài ra, thời gian gần đây tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, bước đầu ảnh hưởng đến động thái phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước."
 
 
Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội tóm tắt như sau:
 
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) so với cùng kỳ năm ngoái là 5,18%. Đây cũng là mức tăng GDP nửa đầu năm cao nhất trong ba năm gần đây (nửa đầu năm 2013 tăng 4,93%, năm 2013 tăng 4,90%).
 
Trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,33%; khu vực dịch vụ tăng 6,01%.
 
- Cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay vẫn theo hướng tích cực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,69%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,70%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 18,18%; 38,70%; 43,12%).
 
- Về hoạt động của doanh nghiệp: Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có 37315 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 230,9 nghìn tỉ đồng, giảm 4,1% về số doanh nghiệp đăng ký thành lập và tăng 19,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.
 
Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động có đăng ký hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký là 33454 doanh nghiệp, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp rơi vào tình trạng ngừng hoạt động nay quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm là 8322 doanh nghiệp, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm 2013.
 
- Về đầu tư phát triển: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 502,5 nghìn tỉ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 30,1% GDP.
 
Số vốn đầu tư này bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 198,2 nghìn tỉ đồng, chiếm 39,5% tổng vốn và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 178 nghìn tỉ đồng, chiếm 35,4% và tăng 7,9%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 126,3 nghìn tỉ đồng, chiếm 25,1% và tăng 6,5%.
 
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng ước tính đạt 90 nghìn tỉ đồng, bằng 48,6% kế hoạch năm và tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2013.
 
- Về thu chi ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-6-2014 ước đạt 376,9 nghìn tỉ đồng, bằng 48,2% dự toán năm; trong đó thu nội địa 256,7 nghìn tỉ đồng, bằng 47,6%; thu từ dầu thô 48,3 nghìn tỉ đồng, bằng 56,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 70,5 nghìn tỉ đồng, bằng 45,8%.
 
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-6-2014 ước tính đạt 449,4 nghìn tỉ đồng, bằng 44,6% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 72,6 nghìn tỉ đồng, bằng 44,5% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 70 nghìn tỉ đồng, bằng 44,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 321,7 nghìn tỉ đồng, bằng 45,7%; chi trả nợ và viện trợ 55,1 nghìn tỉ đồng, bằng 45,9%.
 
- Về xuất nhập khẩu: Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 70,9 tỉ đô la Mỹ, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 23,1 tỉ đô la, tăng 11,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 47,8 tỉ đô la, chiếm 67,5% tổng kim ngạch và tăng 16,6%.
 
Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 69,6 tỉ đô la Mỹ, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 30,3 tỉ đô la, tăng 10,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,3 tỉ đô la, tăng 11,6%.
 
- Về giá cả: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6-2014 tăng 1,38% so với tháng 12-2013 và tăng 4,98% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm nay, CPI tăng 0,23%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 4,77% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
 
Chỉ số giá vàng tháng 6-2014 giảm 0,12% so với tháng trước và giảm 9,79% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6-2014 tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước.
 
Xem toàn văn báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 của Tổng cục Thống kê.
 
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 27/06/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/116841/Nua-dau-nam-2014-GDP-tang-cao-nhat-trong-ba-nam.html.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Kinh tế Trung Quốc suy yếu, cơ hội nào cho Việt Nam?








Thủy sản xuất khẩu sang Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu thị trường này suy giảm. Ảnh Thanh Tao
 
(TBKTSG) - Nền kinh tế Trung Quốc đang phát đi những tín hiệu không mấy khả quan trong thời gian gần đây, đặc biệt, số liệu về tình hình xuất khẩu tháng 2 sụt giảm mạnh. Do Trung Quốc là một đối tác thương mại lớn, lại có điều kiện địa lý giáp ranh, liệu Việt Nam có thể tìm thấy cơ hội gì từ tình hình hiện nay của Trung Quốc.
Trung Quốc: những số liệu đáng thất vọng
 
Phiên giao dịch ngày 10-3 vừa qua, thị trường chứng khoán châu Á nói chung và thị trường Trung Quốc nói riêng đã có một phiên lao dốc mạnh. Chỉ số CSI 300 giảm 3,3% xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2-2009. Đồng nhân dân tệ (NDT) đã có lúc giảm tới 0,5% so với đồng đô la Mỹ, là mức giảm mạnh nhất trong một ngày kể từ tháng 12-2008. Báo cáo về tình hình xuất khẩu tháng 2 đáng thất vọng, chỉ đạt 114 tỉ đô la Mỹ, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước (trong khi dự báo của các chuyên gia trước đó cho rằng xuất khẩu sẽ tăng 7,5%). Điều này được cho là nguyên nhân chính khiến tâm lý nhà đầu tư Trung Quốc hoảng loạn.

Xuất khẩu sụt giảm chỉ là một trong rất nhiều nghi ngại về tình hình sức khỏe thời gian gần đây của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tăng trưởng GDP năm 2013 của Trung Quốc chỉ đạt 7,7% - mức thấp nhất kể từ năm 1999. Dự báo của các tổ chức tài chính lớn như Ngân hàng Thế giới (WB) hay Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đều cho rằng năm 2014, Trung Quốc sẽ tiếp tục có mức tăng trưởng thấp hơn năm 2013. Chính phủ Trung Quốc định hướng “lái” động lực tăng trưởng từ khu vực xuất khẩu sang tiêu dùng nội địa, đồng thời giảm tỷ trọng tổng vốn đầu tư/GDP trước nguy cơ nợ trái phiếu chính quyền địa phương của nước này đã tăng cao đến mức báo động. Tuy nhiên, tất cả những định hướng trên cần thời gian dài mới có thể phát huy hiệu quả. Trước mắt, nếu xuất khẩu tiếp tục suy giảm (cho dù tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu/GDP chỉ khoảng 30%), tăng trưởng của Trung Quốc chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực trong năm 2014.

Thách thức và cơ hội nào cho Việt Nam?
 
Việt Nam, với tư cách là một đối tác thương mại lớn (thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu và 30% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam), chắc chắn sẽ có ảnh hưởng ít nhiều từ việc kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại.

Đánh giá sơ bộ và định tính có thể thấy nhiều khả năng một số nhóm hàng của Việt Nam có tỷ trọng xuất khẩu lớn sang Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng tiêu cực, tiêu biểu là nhóm hàng nguyên nhiên liệu thô - khoáng sản (chủ yếu là dầu mỏ, than đá) và nhóm hàng nông lâm thủy sản (tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc trong tổng kim ngạch xuất khẩu của hai nhóm hàng này năm 2013 lần lượt là 16,5% và 17,8%). Các nhóm hàng khác có tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc nhưng phần kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng không quá lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, như dệt may - giày dép, máy vi tính, điện thoại và linh kiện, có thể sẽ ít chịu tác động hơn.

Trên phương diện nhập khẩu, nếu xuất khẩu sang các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU gặp khó khăn, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh hàng hóa sang các nước láng giềng châu Á và khu vực ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, khi các cam kết về cắt giảm thuế quan theo Hiệp định Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc sẽ phải được Việt Nam hoàn tất vào cuối năm 2015. Khi đó, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc sẽ có nguy cơ ngày càng trầm trọng hơn (cuối năm 2013 đã đạt hơn 23 tỉ đô la Mỹ, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu).

Thông tin mới nhất liên quan đến chính sách điều hành tỷ giá của Trung Quốc được ban hành ngày 17-3 là biên độ giao dịch tỷ giá được nâng lên gấp đôi so với mức trước đây, từ ± 1% lên 2%; nghĩa là từ ngày 17-3 NDT có thể biến động tối đa 2% so với tỷ giá tham chiếu được Ngân hàng trung ương Trung Quốc công bố hàng ngày. Lần điều chỉnh biên độ giao dịch của NDT gần đây nhất là tháng 4-2012 (tăng từ 0,5% lên 1%).
Động thái mới này của Trung Quốc đi ngược lại rất nhiều dự báo gần đây cho rằng NDT sẽ lên giá trong năm 2014 đi kèm với lộ trình dần tự do hóa các giao dịch ngoại tệ của Chính phủ Trung Quốc. Với dữ liệu về xuất khẩu yếu kém trong tháng 2-2014 cộng với chính sách biên độ được nới thêm, NDT nhiều khả năng sẽ giảm giá trong các tháng tới, tạo điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc (đây hẳn là điều Trung Quốc đã tính đến khi quyết định nới biên độ tỷ giá). Điều này sẽ mang đến áp lực đối với kinh tế Việt Nam trên cả phương diện xuất khẩu và nhập khẩu cho dù mức độ ảnh hưởng có thể sẽ không quá lớn do biên độ biến động NDT chỉ được nới thêm 1%. Một mặt, các mặt hàng xuất khẩu của chúng ta sẽ phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc xuất sang thị trường Mỹ và EU như dệt may, da giày, đồ gỗ... Mặc khác, các mặt hàng tiêu dùng giá rẻ của Trung Quốc sẽ có thêm cơ hội tràn vào thị trường Việt Nam, khiến thâm hụt thương mại với Trung Quốc có nguy cơ ngày càng mở rộng.
Về căn bản, các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là máy móc thiết bị (đạt hơn 6 tỉ đô la Mỹ năm 2013, chiếm 18% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc) và các nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu như điện thoại và linh kiện (hơn 5,5 tỉ đô la Mỹ), nguyên phụ liệu dệt may và da giày (hơn 5 tỉ đô la Mỹ)... Với cơ cấu này, khả năng nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc trong các năm tới có thể vẫn ở mức cao. Tuy vậy, điều này sẽ có cơ hội chuyển biến khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), vì khi đó, các nhà xuất khẩu tại Việt Nam sẽ phải chú ý nhiều hơn đến nguyên tắc xuất xứ để được hưởng các ưu đãi thuế suất từ TPP bằng cách chuyển sang nhập khẩu máy móc, nguyên phụ liệu từ các nước là thành viên tham gia ký kết hiệp định này, thay vì nhập khẩu từ Trung Quốc như hiện nay.

Ngoài ra, vẫn còn những cơ hội để Việt Nam có thể hưởng lợi một khi tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc suy giảm. Rõ rệt nhất là sự chuyển hướng của dòng vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi Trung Quốc để đến các thị trường có điều kiện sản xuất tương đương nhưng bớt rủi ro hơn. Việt Nam là một ứng cử viên sáng giá trong kịch bản này với triển vọng gia nhập TPP trong những năm tới, trong khi Trung Quốc thì không tham gia hiệp định này.

Trên thực tế, thu hút vốn FDI ròng của Trung Quốc đã liên tục sụt giảm kể từ năm 2008 trở lại đây (năm 2013 chỉ đạt 27,4 tỉ đô la Mỹ so với mức bình quân 55 tỉ đô la Mỹ của giai đoạn 2008-2012). Trong khi ở Việt Nam, dòng vốn FDI có sự khởi sắc, đặc biệt trong năm 2013 với mức tăng trưởng vốn đăng ký lên tới 54% so với cùng kỳ năm 2012. Xu hướng này dự kiến sẽ còn tiếp diễn trong năm 2014.

Linh Trang

Nguồn: Kinh Tế Sài Gòn Online ngày 21/03/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/hoso/112117/Kinh-te-Trung-Quoc-suy-yeu-co-hoi-nao-cho-Viet-Nam?.html.

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Danh sách các nước theo GDP (danh nghĩa) bình quân đầu người năm 2012


Danh sách các nước theo GDP (danh nghĩa) bình quân đầu người năm 2012

Từ Wikipedia, Bách khoa toàn thư miễn phí


GDP (danh nghĩa) bình quân đầu người năm 2012.[1]
over $102,400
$51,200–102,400
$25,600–51,200
$12,800–25,600
$6,400–12,800
$3,200–6,400
$1,600–3,200
$800–1,600
$400–800
below $400
unavailable
 

Bài viết này bao gồm bốn danh sách các quốc gia trên thế giới được sắp xếp theo họ sản phẩm trong nước bình quân đầu người tại giá trị danh nghĩa . Đây là giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một năm nhất định, chuyển đổi tại thị trường tỷ giá hối đoái để hiện tại USD , chia cho (hoặc giữa năm) dân số trung bình trong cùng một năm.


Phương pháp

Các số liệu trình bày ở đây không có sự khác biệt về các chi phí sinh hoạt ở các nước khác nhau, và kết quả có thể khác nhau rất nhiều từ năm này sang năm khác dựa trên biến động của tỷ giá hối đoái của các nước tiền tệ . Biến động này có thể thay đổi xếp hạng của một quốc gia từ năm này qua năm tới, mặc dù họ thường làm cho ít hoặc không có sự khác biệt với mức sống của người dân.

Do đó những số liệu này nên được sử dụng một cách thận trọng. GDP bình quân đầu người thường được coi là một chỉ số của một quốc gia mức sống ; [ 2 ] [ 3 ] mặc dù điều này có thể là vấn đề bởi vì GDP bình quân đầu người không phải là một biện pháp thu nhập cá nhân. Xem tiêu chuẩn sống và GDP .

So sánh tài sản quốc gia cũng thường xuyên được thực hiện trên cơ sở sức mua tương đương (PPP), để điều chỉnh những khác biệt về chi phí sinh hoạt ở các nước khác nhau. ( Xem Danh sách quốc gia theo GDP (PPP) bình quân đầu người .) PPP chủ yếu là loại bỏ các vấn đề tỷ giá hối đoái, nhưng có nhược điểm riêng của nó, nó không phản ánh giá trị sản lượng kinh tế trong thương mại quốc tế , và nó cũng đòi hỏi tính toán nhiều hơn GDP bình quân đầu người. Nhìn chung, mỗi con số PPP đầu được thu hẹp lại để lây lan hơn GDP danh nghĩa mỗi con số đầu người.

Các tổ chức phi có chủ quyền (thế giới, Liên minh châu Âu, và một số vùng lãnh thổ phụ thuộc ) được đưa vào danh sách bởi vì chúng xuất hiện trong nguồn. Các nền kinh tế không được xếp hạng trong các bảng xếp hạng ở đây, nhưng được liệt kê theo thứ tự theo GDP để so sánh. Họ được đánh dấu chữ in nghiêng .

Tất cả dữ liệu trong hiện tại đô la Mỹ .
Xem thêm


Phân phối thu nhập:


Ghi chú và tài liệu tham khảo

^ Dựa trên các số liệu của IMF. Nếu không số đã có sẵn cho một quốc gia của IMF, con số CIA đã được sử dụng.

1.     ^ O'Sullivan, Arthur. Thiếu hoặc trống | title = ( giúp đỡ )


3.     ^ dữ liệu tham khảo chủ yếu đến năm 2012. Triển vọng kinh tế thế giới cơ sở dữ liệu-tháng 4 năm 2013 , Quỹ Tiền tệ Quốc tế . Truy cập vào ngày 16 tháng 4 năm 2013.

4.     ^ dữ liệu tham khảo chủ yếu đến năm 2012. cơ sở dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới , Ngân hàng Thế giới . Cơ sở dữ liệu được cập nhật vào ngày 03 tháng bảy năm 2013. Truy cập vào ngày 03 Tháng Bảy 2013.

5.     ^ GDP (tỷ giá hối đoái chính thức) , The World Factbook , truy cập trên 20 tháng 6 năm 2013. Số liệu dân số thu được từ Tổng giữa năm Dân số , Cục điều tra dân số Hoa Kỳ , Cơ sở dữ liệu quốc tế, truy cập vào ngày 20 tháng 6 năm 2013. Lưu ý: bình quân đầu người các giá trị thu được bằng cách chia (tỷ giá hối đoái chính thức) dữ liệu GDP vào số liệu dân số. Những con số này sau đó được làm tròn đến hàng trăm gần nhất trong thời trang Factbook điển hình.


7.     ^ IMF đang sử dụng một ước tính dân số năm 2008 dựa trên một điều tra năm 2001 có hiệu lực đã được đặt ra câu hỏi. Một báo cáo năm 2003 Bộ Ngoại giao Mỹ về Guinea Xích đạo nói rằng "mặc dù năm 2002 (sic) điều tra dân số ước tính dân số tại 1.015.000, ước tính đáng tin cậy đưa ra những con số gần 500.000. Phe đối lập tuyên bố rằng Chính phủ thổi phồng điều tra dân số với dự đoán của các tổng thống Tháng Mười Hai cuộc bầu cử. (...) các nhà lãnh đạo phe đối lập buộc tội hồi đầu năm rằng kết quả điều tra dân số cho thấy một sự gia tăng dân số gấp đôi là sai lầm và rằng con số đã được thổi phồng để duy trì gian lận bầu cử ". [1]

8.     ^ Không bao gồm Syria . Dân số cho Kosovo và San Marino là không có sẵn tại cơ sở dữ liệu của IMF. Để tính toán GDP thế giới bình quân đầu người, dân số hai nước này được thu thập từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, Cơ sở dữ liệu quốc tế , truy cập ngày 11 Tháng Mười 2012.

9.     ^ Dân số thu được từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, Cơ sở dữ liệu quốc tế , truy cập ngày 11 Tháng Mười 2012.

10.  ^ Dân số thu được từ The World Factbook 2007 lưu trữ . Truy cập ngày 18 Tháng Tư 2012.

11.  ^ Dân số thu được từ các Factbook lưu trữ thế giới 2003 . Truy cập ngày 18 Tháng Tư 2012.

  • Trang này được sửa đổi lần cuối vào ngày 03 tháng 7 2013 lúc 14:58.




Xếp hạngQuốc giaUSDNăm
1 Luxembourg107.2062012
2 Qatar99.7312012
3 Na Uy99.4622012
4 Thụy Sĩ79.0332012
5 Úc67.7232012
6 Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất64.8402012
7 Đan Mạch56.2022012
8 Thụy Điển55.1582012
9 Canada (Gia Nã Đại)52.2322012
10 Singapore 51.1622012
11 Hoa Kỳ49.9222012
12 Áo47.0832012
13 Nhật Bản46.7362012
14 Hà Lan46.1422012
15 Phần Lan46,0982012
16 Ai-len45.8882012
17 Kuwait45,8242012
18 Bỉ43.6862012
19 Iceland41.7402012
20 Brunei41.7032012
21 Đức41.5132012
22 Pháp41.1412012
23 Vương quốc Anh38.5892012
24 New Zealand38.2222012
- Hồng Kông (Hương Cảng)36.6672012
25 Ý33,1152012
- Liên minh châu Âu32.5182012
26 Israel31.2962012
27 Tây Ban Nha29.2892012
28 Síp26.3892012
29 Ả Rập Saudi25.0852012
30 Oman24,7652012
31 Bahrain23,4772012
32 Guinea Xích Đạo [ 8 ]23.1332012
33 Hàn Quốc23,1132012
34 Bahamas, The22,8332012
35 Slovenia22,1932012
36 Hy Lạp22.0552012
37 Man-ta20.8522012
38 Đài Loan20,3282012
39 Bồ Đào Nha20,1792012
40 Trinidad và Tobago19,0182012
41 Cộng hòa Séc18,5792012
42 Slovakia16,8992012
43 Estonia16,3202012
44 Barbados16.1522012
45 Chile15.4102012
46 Uruguay14,6142012
47 Nga14.2472012
48 Lithuania14,0182012
49 Latvia13,9002012
50 Antigua và Barbuda13,4292012
51 Croatia12,9722012
52 Venezuela12,9562012
53 Saint Kitts và Nevis12,8042012
54 Libya12,7782012
55 Hungary12.7362012
56 Ba Lan12,5382012
57 Brazil (Ba Tây)12,0792012
58 Gabon11,9292012
59 Kazakhstan11,7732012
60 Argentina (Á Căn Đình)11,5762012
61 Xây-sen11,2262012
62 Thổ Nhĩ Kỳ10,6092012
63 Lebanon10,3112012
64 Malaysia (Mã Lai)10.3042012
65 Mexico (Mễ Tây Cơ)10,2472012
- Thế giới [ 9 ]10,1002012
66 Panama99192012
67 Costa Rica96732012
68 Botswana93982012
69 Mauritius88502012
70 Suriname86862012
71 Romania79352012
72 Colombia78552012
73 Nam Phi75072012
74 Grenada74962012
75 Azerbaijan74502012
76 Saint Lucia72762012
77 Iran72112012
78 Bulgaria70332012
79 Dominica70222012
80 Montenegro68822012
81 Belarus67392012
82 Maldives66752012
83 Peru65302012
84 Saint Vincent và Grenadines64892012
85 Iraq63052012
86 Trung Quốc60762012
87 Turkmenistan59992012
88 Angola5,8732012
89 Cộng hòa Dominica57632012
90 Namibia57052012
91 Algeria56942012
92 Thái Lan56782012
93 Jamaica55412012
94 Ecuador53112012
95 Serbia49432012
96 Jordan48792012
97 Macedonia, Cộng hòa46832012
98 Tongạ45612012
99 Belize45362012
100 Bosnia và Herzegovina44612012
101 Phi-gi44452012
102 Tunisia42322012
103 Albania39132012
104 Indonesia (Nam Dương)39102012
105 Paraguay39032012
106 Ukraina38772012
107 El Salvador38232012
108 Đông Timor38232012
109 Samoa37272012
- Mông Cổ36272012
110 Cape Verde36042012
111 Guyana35962012
112 Georgia35432012
113 Swaziland34752012
114 Kosovo [ 10 ]34542012
115 Congo, Cộng hòa33462012
116 Guatemala33022012
117 Tuvalu32602012
118 Vanuatu31252012
119 Ai Cập31122012
120 Ma-rốc29992012
121 Armenia29912012
122 Bhutan29542012
123 Sri Lanka28732012
124 Philippines (Phi Luật Tân)26172012
125 Bolivia25322012
126 Papua New Guinea23132012
127 Honduras22422012
128 Moldova20372012
129 Xu-đăng17892012
130 Quần đảo Solomon17862012
131 Nicaragua17572012
132 Uzbekistan17372012
133 Kiribati16462012
134 Nigeria16312012
135 Ghana15622012
136 São Tomé và Príncipe15352012
137 Việt Nam15282012
138 Djibouti15232012
139 Ấn Độ14922012
140 Zambia14742012
141 Lào14462012
142 Yemen13772012
143 Pakistan12962012
144 Lesotho12832012
145 Nam Sudan11752012
146 Cameroon11652012
147 Kyrgyzstan11582012
148 Mauritania11572012
149 Senegal10572012
150 Côte d'Ivoire10542012
151 Chad10062012
152 Kenya9772012
153 Tajikistan9532012
154 Campuchia (Cao Miên)9342012
155 Comoros8652012
156 Miến Điện8352012
157 Bangladesh8502012
158 Benin7942012
159 Haiti7592012
160 Zimbabwe7562012
161 Mozambique6502012
162 Rwanda6932012
163 Mali6312012
164 Nepal6262012
165 Afghanistan (A Phú Hãn)6222012
166 Sierra Leone6132012
167 Burkina Faso6032012
168 Tanzania5992012
169 Uganda5892012
170 Togo5852012
171 Guinea-Bissau5512012
172 Eritrea5462012
173 Guinea5192012
174 Gambia, The5032012
175 Ethiopia4832012
176 Madagascar4512012
177 Cộng hòa Trung Phi4472012
178 Liberia4362012
179 Niger4082012
180 Burundi2822012
181 Malawi2532012
182 Congo, Cộng hòa Dân chủ2372012
- Syrian / a2012


Ngân hàng thế giới (1990-2012) [ 5 ]


Xếp hạngQuốc giaUSDNăm
1 Monaco163.0262011
2 Liechtenstein134.9152009
3 Luxembourg107.4762012
4 Na Uy99.5582012
5 Qatar90.5242011
- Bermuda86.0722011
6Thụy Sĩ79.0522012
- Macau78.2752012
-GuernseyJersey Channel Islands73.5772007
7 Úc67.0362012
8 San Marino62.1882008
9 Kuwait56.5142011
10 Đan Mạch56.2102012
11 Thụy Điển55.2452012
12 Canada52.2192012
13 Singapore51.7092012
14 Hoa Kỳ49.9652012
- Isle of Man49.8172007
15 Áo47.2262012
16 Nhật Bản46,7202012
17 Andorra46.4182008
18 Phần Lan46.1792012
19 Hà Lan46.0542012
20 Ai-len45,8362012
- Quần đảo Faroe44.3172009
21 Bỉ43.4132012
22 Iceland42.6582012
23 Đức41.5142012
24 Brunei41,1272012
25 Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất40,3632011
26 Pháp39.7722012
27 Vương quốc Anh38.5142012
- Hồng Kông36.7962012
28 Ý33.0492012
- Liên minh châu Âu32,6722012
29 New Zealand32.0002010
30 Israel31.2812011
- Quần đảo Cayman30.1911996
31 Tây ban nha29.1952012
- Puerto Rico27.6782012
32 Síp26.3152012
- Aruba25.3552011
33 Guinea Xích Đạo24.0362012
34 Oman23.7312011
35 Hàn Quốc22.5902012
- Greenland22.5082009
36 Slovenia22.0922012
37 Hy Lạp22,0832012
38 Bahamas, The21,9082012
39 Man-ta20.8482012
40 Ả Rập Saudi20.7782011
41 Bồ Đào Nha20.1822012
42 Cộng hòa Séc18,6082012
- Quần đảo Virgin, Mỹ18,7281993
43 Bahrain18,3342010
44 Trinidad và Tobago17.9342012
45 Slovakia16.9342012
46 Estonia16,3162012
47 Chile15,3632012
- Polynesia thuộc Pháp14,5302000
48 Uruguay14.4492012
49 Lithuania14,1502012
50 Nga14,0372012
51 Latvia14,0092012
52 Saint Kitts và Nevis13,9692012
53 Antigua và Barbuda13.2072012
53 Croatia13,2272012
54 Barbados13.0762011
55 Venezuela12,7672012
56 Ba Lan12.7082012
57 Hungary12,6222012
- New Caledonia12.5802000
58 Kazakhstan12,0072012
59 Xây-sen11,7582012
60 Gabon11.4302012
61 Argentina11,5582012
62 Brazil11,3402012
63 Palau11,0062012
64 Thổ Nhĩ Kỳ10,6662012
65 Libya10,4562009
66 Malaysia10,3812012
- Thế giới10.1722012
67 Mexico97422012
68 Lebanon97052012
69 Panama95342012
70 Costa Rica93912012
71 Suriname88642012
72 Mauritius81242012
73 Romania79432012
74 Colombia7,7522012
75 Nam Phi75082012
76 Grenada74852012
77 Azerbaijan72282012
78 Botswana71912012
79 Bulgaria69862012
80 Iran68162011
81 Montenegro68132012
82 Belarus66852012
83 Dominica66912012
84 Peru65732012
85 Maldives65672012
86 Saint Lucia65582012
87 Saint Vincent và Grenadines65152012
88 Turkmenistan65112012
89 Iraq64552012
90 Trung Quốc60912012
91 Cộng hòa Dominica57362012
92 Namibia56682012
93 Jamaica54722012
94 Angola54852012
95 Thái Lan54742012
96 Ecuador54562012
97 Algeria54042012
98 Cuba53832008
99 Serbia51902012
100 Jordan49452012
101 Macedonia, Cộng hòa45892012
102 Belize45772011
103 Tongạ44942012
104 Bosnia và Herzegovina44472012
105 Phi-gi44382012
106 Tunisia42372012
107 Albania41492012
108 Ukraina38672012
109 Cape Verde38382012
110 Paraguay38132012
111 El Salvador37772012
112 Tuvalu37402012
113 Mông Cổ36732012
114 Guyana35842012
115 Samoa35842012
116 Indonesia35572012
117 Quần đảo Marshall35562012
118 Georgia35082012
119 Kosovo34532012
120 Guatemala33682012
121 Armenia33382012
122 Syria32892012
123 Ai Cập31872012
124 Vanuatu31762012
125 Micronesia, Liên bang31652012
126 Congo, Cộng hòa31542012
127 Swaziland30442012
128 Ma-rốc29252012
129 Sri Lanka29232012
130 Philippines25882012
131 Bolivia25762012
132 Bhutan23992012
133 Honduras22642012
134 Papua New Guinea21842012
135 Moldova20382012
136 Quần đảo Solomon18352012
137 Nicaragua17542012
138 Kiribati17432012
139 Uzbekistan17172012
140 Ghana16052012
141 Việt Nam15962012
142 Xu-đăng15802012
143 Nigeria15552012
144 Yemen14942012
145 Ấn Độ14892012
146 Zambia14692012
147 Djibouti14642011
148 São Tomé và Príncipe14022012
149 Lào13992012
150 Pakistan12902012
151 Côte d'Ivoire12442012
- West Bank và Gaza12102005
152 Lesotho11932012
153 Kyrgyzstan11602012
154 Cameroon11512012
155 Mauritania11062012
156 Đông Timor10682012
157 Senegal10322012
158 Campuchia9462012
159 Chad8852012
160 Tajikistan8722012
161 Kenya8622012
162 Nam Sudan8622012
163 Comoros8312012
164 Zimbabwe7882012
165 Haiti7712012
166 Benin7522012
167 Bangladesh7472012
168Nepal7072012
169 Mali6942012
170 Sierra Leone6352012
171 Burkina Faso6342012
172 Afghanistan6202011
173 Rwanda6202012
174 Tanzania6092012
175 Guinea5912012
176 Mozambique5792012
177 Togo5742012
178 Uganda5472012
179 Guinea-Bissau5392012
180 Gambia, The5122012
181 Eritrea5042012
182 Cộng hoà Trung Phi4732012
183 Ethiopia4702012
184 Madagascar4472012
185 Liberia4222012
186 Niger3832012
187 Congo, Cộng hòa Dân chủ2722012
188 Malawi2682012
189 Burundi2512012
190 Somalia1391990




Nguồn: Wikipedia (Bách khoa toàn thư miễn phí) ngày 15/07/2013 truy cập từ http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_(nominal)_per_capita.