Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Thang bão Saffir-Simpson

Thang bão Saffir-Simpson là thang phân loại bão được sử dụng nhiều nhất cho các xoáy thuận nhiệt đới ở Tây bán cầu có cường độ vượt quá cường độ của các áp thấp nhiệt đới và các trận bão nhiệt đới. Thang này chia các cơn bão thành 5 cấp được phân biệt theo cường độ sức gió kéo dài của nó. Để phân loại như là một cơn bão, một xoáy thuận nhiệt đới phải có sức gió kéo dài tối đa ít nhất là 74 dặm trên giờ (33 mét trên giây; 64 knot hay 119 kilômét trên giờ). Cao nhất trong thang bão này là cấp 5 là các cơn bão có sức gió trên 155 mph (69 m/s; 136 kt; 249 km/h).

Sự phân loại này được sử dụng để đo khả năng gây thiệt hại và ngập lụt do bão gây nên khi đổ bộ vào đất liền, mặc dù nó bị phê phán là quá đơn giản. Về mặt chính thức, thang bão Saffir-Simpson được sử dụng để mô tả các cơn bão hình thành ở Đại Tây Dương và bắc Thái Bình Dương về phía đông đường đổi ngày quốc tế. Các khu vực hay quốc gia khác sử dụng sơ đồ phân loại của họ, chủ yếu dựa theo thang sức gió Beaufort, chẳng hạn như Nha khí tượng học Úc sử dụng thang độ 1-5 gọi là tropical cyclone severity categories (các cấp dữ dội của bão). Không giống như thang Saffir-Simpson, các cấp dữ dội dựa trên gió giật mạnh nhất mà không phải là gió kéo dài. Các cấp dữ dội được chia độ thấp hơn so với thang Saffir-Simpson, với cấp dữ dội 2 của bão chỉ gần bằng cấp 1 của thang bão Saffir-Simpson.

Thang bão Saffir-Simpson
Cấp
Sức gió
Sóng cồn
mph
(km/h)
ft
(m)
5
≥156
(≥250)
>18
(>5.5)
4
131–155
(210–249)
13–18
(4.0–5.5)
3
111–130
(178–209)
9–12
(2.7–3.7)
2
96–110
(154–177)
6–8
(1.8–2.4)
1
74–95
(119–153)
4–5
(1.2–1.5)
Phân loại bổ sung
Bão nhiệt đới
39–73
(63–117)
0–3
(0–0.9)
Áp thấp nhiệt đới
0–38
(0–62)
0
(0)

Lịch sử

Thang bão Saffir-Simpson là thang phân loại bão theo cường độ gió kéo dài, được kỹ sư dân dụng Herbert Saffir và nhà khí tượng học Bob Simpson, giám đốc Trung tâm dự báo bão quốc gia Hoa Kỳ (NHC) phát triển năm 1971[1]. Thang bão này được giới thiệu với công chúng năm 1973,[2] và sử dụng phổ biến sau khi Neil Frank thay thế Simpson lãnh đạo NHC năm 1974.[3].
Thang ban đầu được Saffir, một kỹ sư kết cấu, xây dựng năm 1969 khi thực hiện công việc do Liên hiệp quốc ủy nhiệm để nghiên cứu xây dựng nhà ở giá rẻ trong các khu vực nhiều bão.[4] Trong khi nghiên cứu, Saffir nhận ra rằng không có một thang đơn giản để miêu tả các tác động có thể xảy ra của một cơn bão. Biết được lợi ích của thang Richter trong việc mô tả các trận động đất, ông nghĩ ra thang từ 1 đến 5 dựa trên vận tốc gió có thể gây hư hại dự kiến cho các kiến trúc xây dựng. Saffir cung cấp thang này cho NHC, và Simpson bổ sung thêm các hiệu ứng sóng cồn của bão (chiều cao sóng) và ngập lụt. Tuy nhiên, năm 2009, NHC đã loại bỏ các khoảng khí áp và sóng cồn ra khỏi các cấp, biến đổi nó thành thang sức gió thuần túy.[5] Thang bão này không tính tới lượng mưa hay vị trí, nghĩa là một cơn bão cấp 2 nếu đi qua một thành phố lớn sẽ có thể gây thiệt hại lớn hơn cơn bão cấp 5 đi qua khu vực nông thôn.[6]
NHC quyết định rằng cho mùa bão 2009 người ta sẽ dùng thang gió bão Saffir-Simpson thử nghiệm (SSHWS), vẫn dựa trên thang SSHS, nhưng loại trừ mức độ ngập lụt và các ước tính sóng cồn. Trung tâm này trích dẫn một loạt các trận bão làm các lý do để loại bỏ thông tin "không chính xác về mặt khoa học", như bão Katrina và bão Ike với cả hai đều có sóng cồn cao hơn so với ước tính và bão Charley với sóng cồn thấp hơn mức dự báo.[7]

Các cấp

Thang bão này chia tách các cơn bão biển thành 5 cấp khác biệt, dựa trên sức gió, khí áp trung tâm và sóng cồn. Trung tâm dự báo bão quốc gia Hoa Kỳ phân loại bão cấp 3 trở lên là các trận bão lớn. Phần lớn các tổ chức dự báo thời tiết sử dụng định nghĩa cho sức gió kéo dài do Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) khuyến cáo, trong đó định rõ các sức gió đo đạc tại độ cao 10 m (33 ft) trong 10 phút và sau đó lấy số liệu trung bình. Ngược lại, Cục dự báo thời tiết quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa sức gió kéo dài như là tốc độ gió trung bình trong thời gian 1 phút tại độ cao 10 m (33 ft).[8][9] Các giá trị khí áp tâm bão và sóng cồn là xấp xỉ và thường phụ thuộc các yếu tố khác, như quy mô của cơn bão và vị trí của nó. Cường độ của các cơn bão ví dụ tính theo cả thời gian đổ bộ vào đất liền và cường độ tối đa.[10]
Thang bão này là gần đúng với logarit của sức gió, và tốc độ gió tối đa cho cấp "c" (c=1, 2, 3) có thể biểu diễn như sau: 81\times 10^{c/15} dặm trên giờ, làm tròn tới bội số gần nhất của 5.
Năm cấp được sắp xếp trong bảng sau theo trật tự tăng dần lên:
1
Gió kéo dài
33-42 m/s
74-95 mph
64-82 kt
119-153 km/h
4-5 ft
1,2-1,5 m
Áp suất tâm bão
28,94 inch Hg
735 mm Hg
Khả năng gây thiệt hại
Không có thiệt hại thực sự cho các cấu trúcxây dựng. Thiệt hại chủ yếu cho nhà cửa di động không néo chặt, cây cối và bụi rậm. Thiệt hại nhỏ cho cầu cảng và có thể gây ngập lụt.
Mẫu bão
Cấp 2
Gió kéo dài
43-49 m/s
96-110 mph
83-95 kt
154-177 km/h
Sóng cồn
6-8 ft
1,8-2,4 m
Áp suất tâm bão
28,50-28,91 inch Hg
724-734 mm Hg
Khả năng gây thiệt hại
Làm hư hỏng một số mái nhà, cửa và cửa sổ. Thiệt hại đáng kể cho cây trồng, nhà cửa có cấu trúc kém. Có thể gây ngập lụt cầu cảng và những tàu thuyền nhỏ không cột bảo vệ có thể bị gẫy.
Mẫu bão
Cấp 3
Gió kéo dài
50–58 m/s
111–130 mph
96–113 kt
178–209 km/h
Sóng cồn
9-12 ft
2,7-3,7 m
Áp suất tâm bão
27,91-28,47 inch Hg
709-723 mm Hg
Khả năng gây thiệt hại
Một số thiệt hại cấu trúc của nhà cửa nhỏ và các công trình xây dựng khác, một số màn cửa (bằng nhôm) bị gẫy. Nhà cửa di động bị phá sập. Ngập lụt ven biển phá hủy các kết cấu xây dựng nhỏ, các công trình xây dựng lớn bị hư hại bởi các mảnh vụn do ngập lụt tạo ra. Có thể ngập lụt trong đất liền.
Mẫu bão
Cấp 4
Gió kéo dài
59–69 m/s
131–155 mph
114–135 kt
210–249 km/h
Sóng cồn
13–18 ft
4,0–5,5 m
Áp suất tâm bão
27.17-27.88 inHg
690-708 mm Hg
Khả năng gây thiệt hại
Các màn cửa gẫy đổ nhiều hơn, các mái của các ngôi nhà nhỏ bị phá hỏng. Xói mòn mạnh ven biển. Ngập lụt trong đất liền.
Mẫu bão
Cấp 5
Gió kéo dài
≥70 m/s
≥156 mph
≥136 kt
≥250 km/h
Sóng cồn
≥19 ft
≥5,5 m
Áp suất tâm bão
<27,17 inch Hg
<690 mm Hg
Khả năng gây thiệt hại
Các ngôi nhà nhỏ và công trình xây dựng công nghiệp bị cuốn bay mái. Các công trình nhỏ bị cuốn bay, thiệt hại nặng nề cho các công trình lớn. Ngập lụt gây thiệt hại cho các tầng thấp của mọi công trình ven biển. Có thể phải tản cư dân chúng.
Mẫu bão

Mọi vận tốc gió dựa trên cơ sởtrung bình một phút. Giá trị của áp suất tâm bão là xấp xỉ. Cường độ các cơn bão ví dụ là đo theo thời gian đổ bộ vào đất liền.
Phê phán
Một số nhà khoa học, như Kerry Emanuel và Lakshmi Kantha, đã phê phán thang này là quá đơn giản hóa, chỉ ra rằng thang này không tính đến quy mô tự nhiên của cơn bão mà cũng không tính tới lượng giáng thủy do nó sinh ra.[6] Ngoài ra, họ và một số người khác chỉ ra rằng thang Saffir-Simpson, không giống như thang Richter được dùng để đo động đất, là không bỏ ngỏ, và được lượng tử hóa thành một lượng nhỏ các cấp. Các phân loại thay thế được đề xuất bao gồm Chỉ số cường độ bão, dựa trên áp suất động lực do gió bão gây ra, và Chỉ số nguy hiểm bão, dựa trên tốc độ gió bề mặt, bán kính sức gió tối đa của cơn bão và tốc độ dịch chuyển của nó.[11][12] Cả hai thang này đều liên tục và hơi giống thang Richter[13]. Tuy nhiên, chưa có thang nào được các tổ chức chính thức sử dụng.

Cấp 6

Sau một loạt các trận bão mạnh của mùa bão Đại Tây Dương 2005, một vài nhà bình luận báo chí và một số nhà khoa học đã đề xuất việc đưa vào cấp 6, và họ gợi ý rằng cấp 6 là bão với sức gió trên 174 hoặc 180 mph (78–80 m/s; 150–155 knot; 280–290 km/h).[6][14] Chỉ một số ít trận bão trong lịch sử đạt tới cấp giả thuyết này. Phần lớn trong số chúng là các trận siêu bão Tây Thái Bình Dương, đáng chú ý như bão Tip năm 1979 với sức gió kéo dài 190 mph.
Theo Robert Simpson, không có lý do để có cấp 6 trên thang Saffir-Simpson là do nó được thiết kế để đo đạc thiệt hại tiềm năng của một cơn bão đối với các kết cấu nhân tạo. Nếu tốc độ gió của cơn bão là trên 155 mph (250 km/h) thì thiệt hại đối với một công trình xây dựng sẽ là "nghiêm trọng không phụ thuộc vào việc nó được xây dựng tốt như thế nào".[3]

Ghi chú

  1. ^ Williams, Jack, “Hurricane scale invented to communicate storm danger”, USA Today, 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập 25 tháng 2 năm 2007.
  2. ^ Staff writer (9 tháng 5 năm 1973). “'73 Hurricanes to be Graded”. The Associated Press. Truy cập 8 tháng 12 năm 2007.
  3. ^ a b Debi Iacovelli (tháng 7 năm 2001). “The Saffir/Simpson Hurricane Scale: An Interview with Dr. Robert Simpson”. South Florida Sun-Sentinel. Truy cập 10 tháng 9 năm 2006.
  4. ^ Associated Press, “Hurricanes shaped life of scale inventor Saffir”, 13 tháng 8 năm 2001. Truy cập 21 tháng 12 năm 2007.
  5. ^ The Saffir-Simpson Hurricane Wind Scale (Experimental) Trung tâm dự báo bão quốc gia Hoa Kỳ. Truy cập 15-5-2009.
  6. ^ a b c Ker Than, “Wilma's Rage Suggests New Hurricane Categories Needed”, LiveScience, 20 tháng 10 năm 2005. Truy cập 20 tháng 10 năm 2005.
  7. ^ “Experimental Saffir-Simpson Hurricane Wind Scale”. Trung tâm dự báo bão quốc gia Hoa Kỳ (2 tháng 4 năm 2009).
  8. ^ Tropical Cyclone Weather Services Program (1 tháng 6 năm 2006). “Tropical cyclone definitions” định dạng (PDF). Cục dự báo thời tiết quốc gia Hoa Kỳ. Truy cập 30 tháng 11 năm 2006.
  9. ^ Cục quản lý tình huống khẩn cấp liên bang (2004). “Hurricane Glossary of Terms”. Truy cập 24 tháng 3 năm 2006..
  10. ^ Trung tâm dự báo bão quốc gia Hoa Kỳ (22 tháng 6 năm 2006). “Saffir–Simpson Hurricane Scale Information”. Cục Hải dương và Khí quyển quốc gia Hoa Kỳ (NOAA). Truy cập 25 tháng 2 năm 2007.
  11. ^ Kantha L. (January 2006). "Time to Replace the Saffir–Simpson Hurricane Scale?" (PDF). Eos 87 (1): 3,6. http://www.ametro.net/~spongey/images/2006EO010003.pdf. Truy cập 8-12-2007.
  12. ^ Kantha, Lakshmi (February 2008). "Tropical Cyclone Destructive Potential by Integrated Kinetic Energy" (PDF). Tập san của Hiệp hội khí tượng học Hoa Kỳ (Boston: Hiệp hội khí tượng học Hoa Kỳ) 89 (2): 219–221. doi:10.1175/BAMS-89-2-219. http://ams.allenpress.com/archive/1520-0477/89/2/pdf/i1520-0477-89-2-219.pdf. Truy cập 19-8-2008.
  13. ^ Benfield Hazard Research Centre (2006). “Atmospheric Hazards”. Hazard & Risk Science Review 2006. Viện Đại học London. Truy cập 8 tháng 12 năm 2007.
  14. ^ Bill Blakemore, “Category 6 Hurricanes? They've Happened: Global Warming Winds Up Hurricane Scientists as NOAA Issues Its Atlantic Hurricane Predictions for Summer 2006”, ABC News, 21 tháng 5 năm 2006. Truy cập 10 tháng 9 năm 2006.

Liên kết ngoài


Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ngày 04/04/2012, truy cập từ http://vi.wikipedia.org/wiki/Thang_b%C3%A3o_Saffir-Simpson.

Thang sức gió Beaufort

Thang sức gió Beaufort hay đơn giản là cấp gió là thang đo kinh nghiệm về sức gió, chủ yếu dựa trên trạng thái của mặt biển hay các trạng thái sóng.

Lịch sử

Thang sức gió này được Francis Beaufort, một đô đốc hải quân và đồng thời là một nhà thủy văn học người Ireland, tạo ra năm 1805. Thang mang tên Beaufort có sự phát triển lâu dài và phức tạp, từ công trình trước đó của những người khác cho tới khi Beaufort trở thành người quản lý cao cấp trong Hải quân Hoàng gia Anh trong thập niên 1830. Đầu thế kỷ 19, các sĩ quan hải quân thực hiện các quan sát thời tiết theo thường lệ nhưng không tồn tại một thang tiêu chuẩn và vì thế các quan sát này là rất chủ quan - một người cho đó là "gió nhẹ" thì người khác cũng có thể coi đó là "gió vừa phải". Beaufort đã thành công trong việc đưa mọi thứ vào quy chuẩn.
Thang ban đầu có 13 cấp (từ 0 tới 12) đã không dẫn chiếu tới các con số về vận tốc gió mà liên quan tới các điều kiện gió định tính có tác động lên các buồm của man of war, khi đó là các loại tàu chủ yếu của Hải quân Hoàng gia Anh, từ "vừa đủ để chịu lái" tới "không vải nào của buồm có thể chịu được". Ở cấp 0, tất cả các buồm có thể giương lên; ở cấp 6 thì một nửa số buồm có thể phải hạ xuống; ở cấp 12 thì tất cả các buồm phải xếp gọn lại[1].
Thang sức gió này đã là tiêu chuẩn cho mọi nhật trình hàng hải trên các tàu thuyền của Hải quân Hoàng gia Anh vào cuối thập niên 1830, và đã được thích ứng đẻ ử dụng phi-hải quân kể từ thập niên 1850, với các số của thang tương ứng với sự xoay vòng của máy đo gió hình chén. Năm 1906, để phù hợp với sự phát triển của tàu hơi nước, các miêu tả đã được thay đổi để miêu tả biển như thế nào chứ không phải là buồm như thế nào, được vận hành và mở rộng cho các quan sát trên đất liền. Sự xoay vòng của các con số trên thang chỉ được chuẩn hóa vào năm 1923. George Simpson, Giám đốc Cục Khí tượng Vương quốc Anh, là người chịu trách nhiệm về điều này và về bổ sung các miêu tả trên cơ sở đất liền[2]. Sự đo đạc đã được thay đổi một chút vào vài thập niên sau để hoàn thiện sự thuận tiện trong sử dụng cho các nhà khí tượng học. Ngày nay, nhiều quốc gia đã từ bỏ kiểu miêu tả và đơn vị đo này và sử dụng các đơn vị của SI như m/s hay km/h, nhưng các cảnh báo thời tiết khắc nghiệt đưa ra công chúng vẫn là xấp xỉ như vậy khi sử dụng thang Beaufort.
Thang Beaufort được mở rộng năm 1946, khi các cấp từ 13 tới 17 được thêm vào[3]. Tuy nhiên, các cấp từ 13 tới 17 chỉ nhằm áp dụng cho các trường hợp đặc biệt, chẳng hạn khi có bão nhiệt đới mạnh. Ngày nay, thang mở rộng chỉ được sử dụng tại Đài Loan, Trung Quốc và gần đây là Việt Nam.
Tốc độ gió trên thang Beaufort mở rộng 1946 dựa trên công thức kinh nghiệm:[4]
v = 0,836 B3/2 m/s
trong đó v là tương đương với vận tốc gió 10 mét trên bề mặt và B là số trên thang Beaufort. Chẳng hạn, B = 9,5 cho giá trị của v là 24,48 m/s, nó tương đương với giới hạn dưới của "cấp 10 Beaufort". Sử dụng công thức này thì gió mạnh nhất (trên 330 km/h) trong các trận siêu bão có thể đạt tới giá trị cấp 23 trên thang.
Ngày nay, đôi khi cấp gió bão được miêu tả như là cấp trong thang Beaufort từ 12 tới 16, có liên quan gần đúng với cấp tốc độ tương ứng của thang bão Saffir-Simpson, trong đó các trận bão thực sự được đo đạc, trong đó cấp 1 của thang bão này tương đương với cấp 12 trong thang sức gió Beaufort. Tuy nhiên, các cấp mở rộng trong thang sức gió Beaufort trên cấp 13 không trùng khớp với các cấp của thang bão Saffir-Simpson. Các vòi rồng cấp 1 trên thang Fujita và thang TORRO cũng bắt đầu gần đúng ở mức trên của cấp 12 trong thang Beaufort nhưng chúng là các thang độc lập.
Cũng cần lưu ý rằng độ cao của sóng tính trong điều kiện tìm thấy ngoài biển khơi, chứ không phải ven bờ.

Thang độ và miêu tả
Cấp Beaufort
Vận tốc gió ở 10 m trên mực nước biển (hải lý / km/h / mph)
Mô tả
Độ cao sóng (m)
Tình trạng mặt biển
Tình trạng đất liền
0
nhỏ hơn 1 / nhỏ hơn 1 / 1
Êm đềm
0
Phẳng lặng
Êm đềm
1
2 / 1-6 / 2
Gió rất nhẹ
0,1
Sóng lăn tăn, không có ngọn.
Chuyển động của gió thấy được trong khói.
2
5 / 7-11 / 6
Gió thổi nhẹ vừa phải
0,2
Sóng lăn tăn.
Cảm thấy gió trên da trần. Tiếng lá xào xạc.
3
9 / 12-19 / 11
Gió nhẹ nhàng
0,6
Sóng lăn tăn lớn.
Lá và cọng nhỏ chuyển động theo gió.
4
13 / 20-29 / 15
Gió vừa phải
1
Sóng nhỏ.
Bụi và giấy rời bay lên. Những cành cây nhỏ chuyển động.
5
19 / 30-39 / 22
Gió mạnh vừa phải
2
Sóng dài vừa phải (1,2 m). Có một chút bọt và bụi nước.
Cây nhỏ đu đưa.
6
24 / 40-45 / 27
Gió mạnh
3
Sóng lớn với chỏm bọt và bụi nước.
Cành lớn chuyển động. Sử dụng ô khó khăn.
7
30 / 51-62 / 35
Gió mạnh
4
Biển cuộn sóng và bọt bắt đầu có vệt.
Cây to chuyển động. Phải có sự gắng sức khi đi ngược gió.
8
37 / 63-75 / 42
Gió mạnh hơn
5,5
Sóng cao vừa phải với ngọn sóng gẫy tạo ra nhiều bụi. Các vệt bọt nước.
Cành nhỏ gẫy khỏi cây.
9
44 / 76-87 / 50
Gió rất mạnh
7
Sóng cao (2,75 m) với nhiều bọt hơn. Ngọn sóng bắt đầu cuộn lại. Nhiều bụi nước.
Một số công trình xây dựng bị hư hại nhỏ.
10
52 / 88-102 / 60
Gió bão
9
Sóng rất cao. Mặt biển trắng xóa và xô mạnh vào bờ. Tầm nhìn bị giảm.
Cây bật gốc. Một số công trình xây dựng hư hại vừa phải.
11
60 / 103-117 / 69
Gió bão dữ dội
11,5
Sóng cực cao.
Nhiều công trình xây dựng hư hỏng.
12
64 / 118-132 / 73 và cao hơn
Gió bão cực mạnh
14+
Các con sóng khổng lồ. Không gian bị bao phủ bởi bọt và bụi nước. Biển hoàn toàn trắng với các bụi nước. Nhìn gần cũng không rõ.
Nhiều công trình hư hỏng nặng.

Ứng dụngThang đo sức gió Beaufort được sử dụng để phục vụ cho công tác dự báo thời tiết.
Ngày nay, đôi khi các cơn bão mạnh được đánh số từ 12 đến 16 sử dụng thang bão Saffir-Simpson có 5 loại, với bão loại 1 có số Beaufort là 12, bão loại 2 có số Beaufort là 13,v.v.
Tại Việt Nam, do hầu như không có bão mạnh đến mức cần sử dụng thang bão Saffir-Simpson (lý do là các cơn bão mạnh trên cấp 12 hầu như đều xuất phát từ ngoài đại dương, sau khi vượt qua Philipin để đổ bộ vào Việt Nam thì sức gió đã suy giảm rất nhiều), nên người ta chỉ cần sử dụng thang sức gió Beaufort để mô tả sức mạnh của chúng là đủ. Gió xoáy có cấp Beaufort từ 6 đến 7 trên một diện rộng gọi là áp thấp nhiệt đới. Gió xoáy từ cấp 8 trở lên trên một diện rộng, có thể kèm theo mưa lớn gọi chung là bão. Tuy nhiên, điều này đã không còn đúng trong thời gian gần đây, điển hình là các cơn bão Chanchu và bão Xangsane trong năm 2006. Mặc dù bão Chanchu không đi vào vùng bờ biển Việt Nam, nhưng với cấp 4 theo thang bão Saffir-Simpson nó đã làm nhiều tàu thuyền bị đánh chìm và nhiều ngư dân Việt Nam bị chết trên biển Đông. Trong dự báo bão cho cơn bão Xangsane, lần đầu tiên người ta đã sử dụng cấp 13 và trên cấp 13.
Tuy nhiên ,đến năm 2008 khi cơn bão số 6 mang tên quốc tế Hagupit (dùi cui) đi vào khu vực Bắc Biển Đông Việt Nam với sức gió của nó đạt 120 hải lý (knot) ... tương đương với cấp 4 của thang bão Saffir-Simpson thì Việt Nam bắt đầu sử dụng cấp 13 - 17 khi đã nâng nó lên cấp ngưỡng đầu tiên của siêu bão là cấp 15.
Tại Mỹ, gió có cấp Beaufort 6 - 7 tạo ra các bản thông báo là small craft advisory, với sức gió cấp 8 - 9 là gale warning, cấp 10 hay 11 - storm warning (hay "tropical storm warning"), và tất cả những cái mạnh hơn gọi là hurricane warning.

Liên kết ngoài

Ghi chú

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ngày 04/04/2012, truy cập từ http://vi.wikipedia.org/wiki/Thang_s%E1%BB%A9c_gi%C3%B3_Beaufort.