|
Con đường phía trước đối với các nước ASEANAllen Blewit Giám đốc điều hành ACCA Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) luôn chiếm khoảng 98-98% tổng số các doanh nghiệp và cung cấp 50% khối lượng việc làm trong hầu hết các nền kinh tế. Các DNVVN đóng góp một phần đáng kể cho sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ rất cần phải có các tiêu chuẩn hạch toán và báo cáo tài chính liên quan trực tiếp và tương đối dễ áp dụng. Xuất phát từ nhu cầu đó, ACCA đã và đang hỗ trợ các nguyên tắc làm nền cho Dự án các DNVVN của Uỷ ban Chuẩn mực kế toán Quốc tế, nhằm đưa ra một bộ chuẩn mực kế toán nâng cao chất lượng các báo cáo tài chính và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng những báo cáo này. Theo quan điểm của những nhà ban hành chuẩn mực cũng như những nhà chuyên môn trong ngành kế toán, rõ ràng bộ Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế quá nặng và không phải lúc nào cũng thích hợp đối với các DNVVN. Tuy nhiên, điều quan trọng là Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế áp dụng cho các DNVVN đã tính đến nhu cầu của người sử dụng nhưng báo cáo tài chính do các DNVVN đưa ra. Vì vậy, ACCA vận động Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế thúc đẩy việc nghiên cứu dựa trên các phạm vi quyền lực pháp lý khác nhau trên toàn thế giới. Ở mỗi quốc gia khác nhau, ngân hàng sẽ có sự kiểm tra các yếu tố khác nhau trong báo cáo tài chính. Một điểm khác biệt cần lưu ý khi soạn thảo chuẩn mực BCTC đó là sự khác nhau về lĩnh vực hoạt động. Trong khi khoảng 99% các doanh nghiệp nhỏ của Châu Âu là thuộc khu vực dịch vụ, dựa trên nền tảng kiến thức và có xu hướng ít tài sản hữu hình - phần lớn các doanh nghiệp nhỏ ở Đông Nam Á là thuộc lĩnh vực sản xuất và những công ty này chủ yếu thể hiện tài sản hữu hình trên bản quyết toán. Phương thức tiếp cận cũng như nhu cầu của những người sử dụng báo cáo tài chính rất khác nhau trong việc đánh giá các doanh nghiệp thuộc hai khu vực này. Ban Chuẩn mực kế toán Quốc tế dự định đưa ra các chuẩn mực cho các DNVVN dựa trên cơ sở định nghĩa là các DNVVN có khoảng 50 nhân viên và các doanh thu hàng năm khoảng 10 triệu EURO. Tiêu chí mang tính chất định lượng này quá lớn để có thể nắm bắt được nhu cầu của phần lớn các DNVVN - đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Trên thực tế, phần lớn các DNVVN chỉ có mười nhân viên hay ít hơn, không có một bộ phận nội bộ nào theo dõi việc tuân thủ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và sẽ tìm cách tận dụng thời gian cho việc kinh doanh chứ không phải giải quyết các vấn đề quan liêu hay tuân thủ. Trên thực tế, nhiệm vụ của Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế vốn là đưa ra các chuẩn mực cho các nhà đầu tư và cổ đông của một số công ty nhất định nên luôn có một sự thiên lệch có lợi cho thị trường tư bản … Điều này dẫn chúng ta quay trở lại việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế những năm 1990 và sự tăng tốc của xu hướng này vào năm 2000 do sự tán thành một phần của IOSCO (Tổ chức những nhà điều phối chứng khoán) đối với các Chuẩn mực kế toán quốc tế cho các niêm yết xuyên biên giới và quan trọng nhất là sau đó có sự tán thành của EU như là một yếu tố cơ bản trong chiến lược báo cáo tài chính. Sự công khai rộng rãi và các phương thực phức tạp là một đặc trưng nổi trội của các chuẩn mực được ban hành trong thời gian gần đây. Định hướng thị trường tư bản của Ban chuẩn mực Kế toán Quốc tế đã dẫn đến các chuẩn mực phức tạp hiện nay và Bộ Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế dày tới hơn 2.500 trang, là rào cản lớn đối với việc áp dụng rộng rãi chuẩn mực vào thực tiễn, chứ không chỉ từ phía các DNVVN. Không chỉ có nguy cơ các doanh nghiệp nhỏ không áp dụng chuẩn mực do quá phức tạp, dài dòng mà còn nhiều khó khăn liên quan tới vần đề chuyển ngữ các chuẩn mực này. Trong trường hợp này, Chuẩn mực Kế toán Quốc tế cần cố găng đưa ra các chuẩn mực báo cáo tài chính cho các DNVVN trên cơ sở phần lớn các chuẩn mực đã được ban hành. Điều quan trọng hơn là phải đảm bảo tất cả nhu cầu của người sử dụng các báo cáo tài chính của DNVVN được đề cập đến hơn là một DNVVN phải quay lại sử dụng bộ Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế mà chắc chắn rất nặng nền và không thích hợp. Để điều chỉnh từng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho phù hợp với các DNVVN và soản thảo các chuẩn mực cho bộ Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế mới, Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế cần thành lập một ban thường trực riêng và dành riêng cho việc soạn thảo các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho các DNVVN. Các chuẩn mực mới đó cần dựa trên cơ sở quốc gia chứ không phải toàn cầu. Vần còn những diễn biến mới, có thể coi là cuộc cách mạng, trong thời gian tới trong việc soạn thảo các chuẩn mực báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và rất nhiều các đối tượng liên quan đang theo dõi với sự quan tâm ngày càng cao. Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) này đã đồng ý xem xét vần đề về việc dự án DNVVN của Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế không thực sự đáp ứng mọi yêu cầu của nhưng DN thật sự nhỏ và nhưng đối tượng của họ, theo kết luận tài Đại hội tham vấn DNVVN do IFAC tổ chức tại Prague đầu năm 2005. IFAC đã thành lập một ban Tình huống (task force) riêng để theo dõi vấn đề này và người điều hành là Giáo sư Robin Jarvins, Trưởng ban DNVVN của ACCA. Với sự tham gia vào dự án của Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế, ACCA đã, đang và sẽ luôn ủng hộ sự phát triển của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế. Hy vọng, mỗi động thái của Ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế và của Ban tình huống IFAC (nếu cần) sẽ mang lại một dấu ấn mà mỗi quốc gia có thể sử dụng làm nền tảng cho lĩnh vực kế toán các DNVVN, phù hợp với mục tiêu sử dụng, dễ áp dụng và tương đối đơn gian và quan trọng nhất, sẽ dẫn đến việc ban hành chuẩn mực được quốc tế công nhận. Trong lúc quá trình này vẫn còn đang diễn ra khá chật vật, việc giúp các DNVVN đưa ra được những thông tin hữu ích cho các đối tượng của mình trong khuôn khổ có giá trị toàn cầu vẫn là mục tiêu mà chúng ta cố gắng vươn tới. (Theo Tạp chí Kế toán) Nguồn: Tạp chí Kế Toán, ngày 28/05/2006, truy cập từ http://www.tapchiketoan.com/ke-toan-quoc-te/chuan-muc-ke-toan-quoc-te/chuan-muc-quoc-te-ve-ke-toan-doi-voi-doanh-nghiep-vua-v.html. |
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kế toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012
Chuẩn mực quốc tế về kế toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chuyển dịch từ IAS sang IFRS - Quốc tế và Việt Nam
| |||||||
| Tuy nhiên, khái niệm Financial Reporting có ý nghĩa bao hàm hơn, tôn vinh hơn vai trò của người làm công tác kế toán. Cán cân nghiêng hơn về việc trình bày thông tin tài chính như thế nào để đảm bảo lợi ích cao hơn của các đối tượng sử dụng thông tin (báo cáo tài chính) được lập ra từ kết quả của công việc kế toán. - Cùng với việc ra đời IFRS, đó là sự thay đổi về cơ chế quy định của từng quốc gia về các chuẩn mực cần tuân thủ. Trước đây, các nước thường có các quy định riêng của mình, gọi là nguyên tắc kế toán được chấp nhận (GAAP), ví dụ Canada có Canada GAAP, nước Mỹ có US GAAP. Các nước cộng đồng chung Châu Âu cũng có những quy định chuẩn mực của nước mình và đi theo IAS đối với các công ty được niêm yết. Có hai khó khăn lớn mà ai cũng có thế nhìn thấy, đó là: + Đối với các công ty được thành lập tại nước này nhưng lại niêm yết tại nước khác: ví dụ khi công ty A thành lập tại EU và tuân thủ IAS khi lập BCTC nhưng khi công ty đó niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ thì việc đầu tiên là phải chuyển đổi sang Báo cáo tài chính theo chuẩn mực US GAAP. Hãy nhớ rằng sự khác biệt không phải là nhỏ giữa hai hệ thống chuẩn mực này, và sự khác biệt đó đã làm ảnh hưởng đến các công ty trong việc bỏ thời gian và chi phí để chuyển đổi báo cáo tài chính, kiểm toán theo báo cáo mới…, và xa hơn nữa, chính là sự hao tổn nguồn lực để nhận thức được của toàn xã hội. + Tương tự như vậy đối với các công ty có công ty mẹ ở nước này nhưng các công ty thành viên (công ty con) ở nước khác, việc hợp nhất báo cáo tài chính theo chuẩn mực của công ty mẹ cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, do các công ty con ở các nước khác với công ty mẹ và áp dụng chuẩn mực kế toán khác. Việc chuyển sang một chuẩn mực chung hiển nhiên đã tạo điều kiện rất nhiều cho những người lập và đọc báo cáo tài chính được viết theo một ngôn ngữ chung cho toàn cầu. Đồng thời tăng tính minh bạch thông tin cho người sử dụng, từ đó hỗ trợ người sử dụng trong quá trình ra quyết định, tránh được những yếu tố bất lợi gây ra do hạn chế trong việc đọc hiểu thông tin tài chính. - Theo khảo sát của Ủy ban kế toán quốc tế của IFAC cuối năm 2007, việc áp dụng IFRS cũng làm thay đổi tư duy và thái độ của Ban giám đốc. Khảo sát cho thấy ở nhều doanh nghiệp trước đây, Ban giám đốc không dành nhiều thời gian cho việc đọc hiểu báo cáo, cũng không thực sự hỗ trợ cho các bộ phận tài chính trong việc hoàn thành báo cáo tài chính đúng hạn. Việc chuyển đổi từ IAS sang IFRS khiến các Giám đốc cảm thấy có trách nhiệm cao hơn, dành nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu IFRS, cũng vì lẽ đó chất lượng, tính chính xác, tính hợp lý cùa thông tin được nâng lên. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này cũng không hoàn toàn thuận lợi. Khảo sát của IFAC cho thấy cũng có khá nhiều ý kiến không đồng tính. - Để đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, nguyên tắc giá trị hợp lý được đưa vào thành yếu tố chủ đạo. Tuy nhên, có rất nhiều trường hợp mà thị trường hoạt động là không thể có được, và giá trị hợp lý khi đó trở thành một sự ước lượng thiếu cơ sở, do đó mục tiêu có được thông tin đáng tin cậy đã không đạt được. - Mặc dù có nhiều lớp đào tạo, hội thảo về chuyển đổi nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn không thể tự làm được theo các quy định mới. Lựa chọn của họ là thuê các công ty kiểm toán hoặc các công ty làm dịch vụ kế toán giúp đỡ. Tuy nhiên ngay cả các công ty kiểm toán lớn đặt tại các nước nhỏ, đôi khi cũng còn phải cần đến sự viện trợ từ công ty mẹ trong việc diễn giải các chuẩn mực. Và như vậy mong muốn có được tính nhất quán đã làm giảm tốc độ cung cấp thông tin tài chính. -Chi phí đầu tư ban đầu khá lớn. Do doanh nghiệp bắt buộc phải xây dựng lại một hệ thống thu thập, xử lý và trình bày thông tin tài chính. Đó là việc đào tạo lại cho nhân viên, chuyển đổi lại hệ thống báo cáo, xây dựng lại các quy trình, thay đổi hệ thống phần mềm. Đối với các doanh nghiệp lớn áp dụng những phần mềm như ORACLE, SAP thì xây dựng lại một phần mềm này tiêu tốn hàng triệu đô la. Đối với những doanh nghiệp nhỏ hơn, sử dụng phần mềm tầm trung như HASSAWORLD thì cũng phải dao động từ trăm ngàn đến triệu đôla. - Nhiều người cho rằng, chuẩn mực IFRS quá phức tạp và rất khó hiểu. Đối với những người sử dụng báo cáo tài chính (Nhất là những ngowif không có hoặc có ít kiến thức về kế toán) thì việc lấy thông tin tài chính từ đây đẻ hỗ trợ cho mục đích ra quyết định thực sự bị hạn chế. Sự phức tạp trong việc trình bày báo cáo tài chính, với mục đích làm cho báo cáo minh bạch hơn đã không làm được. Mặc dù còn có những thông tin không thực sự đồng tình với việc chuyển đổi từ IAS sang IFRS, nhưng thực sự việc áp dụng đang có những yếu tổ chuyển mình rất khả quan. Tất nhiên sẽ còn là chặng đường dài để IFRS được nồng nhiệt đón chào và thực hiện ở nước đã, đang và sẽ áp dụng.
Mai Hương (Tạp chí Kiểm toán)
Nguồn: Tạp chí Kế Toán, ngày 25/10/2008, truy cập từ http://www.tapchiketoan.com/ke-toan-quoc-te/chuan-muc-ke-toan-quoc-te/chuyen-dich-tu-ias-sang-ifrs-quoc-te-va-vie-2.html.
| |||||||
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)