Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng hợp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổng hợp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Chúc Tết Quý Tỵ 2013

 
 
 
 
 
 


 

 
 
 
Kính chúc quý độc giả năm mới Quý Tỵ
An khang, thịnh vượng
Hạnh phúc, thành công!
 
 TS NGHĨA

















Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

THƯƠNG TIẾC

Thương tiếc là tỏ lòng nhớ tiếc, đau thương khi mất một người nào hoặc mất cái gì. Đây là một cảm xúc, một phản ứng bình thường của con người trước những thất thoát, đổi thay, chia lìa. Nó cũng là một kinh nghiệm bồn chồn, day dứt, là con đẻ của sự yêu thương, là nối tiếp của nỗi nhớ.
Cuộc đời con người từ lúc mở mắt chào đời đến khi nhắm mắt ra đi đã có biết bao nhiêu là giã từ, hẫng hụt, xót xa.
Ở tuổi về già thì có quá nhiều tiếc thương để hàn gắn. Mà thời gian giờ còn lại chẳng có là bao.
Những mất mát
Mất mát là một sự kiện không tránh được trong cuộc đời và cũng là cái giá mà ta phải trả khi làm sở hữu chủ. Đây có thể là tử biệt, chia tay xa cách, hoặc đổi thay, không còn chủ quyền.

Mất mát xẩy ra dưới nhiều dạng khác nhau:
Thai nhi ra khỏi lòng mẹ, cất tiếng khóc đầu tiên để lấy dưỡng khí cho sự sống. Và cũng để tiếc cho một mất mát: không còn an toàn trong cơ thể me hiền. Từ nay bé phải bắt đầu học hỏi để rồi tự lực cánh sinh.
Con đầu lòng mất đi sự độc quyền được cưng chiều khi biết là sẽ có em bé. Lớn lên, khi đã biết đi thì mất sự ẵm bế của mẹ cha. Khi trưởng thành, mất sự chăm sóc cơm nước của mẹ hiền. Và khi về già, mất đi sự tráng kiện của tuổi thanh xuân.
Tai nạn, ốm đau lấy đi vài chức năng hay một phần bộ phận cơ thể. Đang tự do lái xe mà bác sĩ khuyến cáo ngưng vì lý do sức khoẻ làm ta mất sự độc lập, không phụ thuộc ai về phương tiện di chuyển.
Một cảm giác thiếu sót khi người phối ngẫu quá bận công việc mà lơ là tình yêu thương với mình. Lại còn ly thân, ly dị mang mất đi người bạn đường đã từng một lần thề thốt trăm năm. Rồi mất việc, mất cương vị hội viên một tổ chức, mất con vật thân yêu của gia đình. Mất một biểu tượng như khi chúng ta phải dời quê hương tới định cư tỵ nạn miền đất lạ, hoặc khi ta mất một niềm tin, một nếp sống tự do, dân chủ.
Nhưng không có mất mát nào đau đớn xé nát tâm can bằng việc tiễn đưa người bạn trăm năm đi vào ô đất lạnh. Nó không đơn giản chỉ có tiếc thương mà còn kéo theo một đời sống đơn côi với tổng hợp của nhiều mất mát khác: mất một tình bạn, một người yêu, người tâm sự, người bao che giúp đỡ, người cùng bổn phận làm cha mẹ, ông bà. Mất một vật đã được coi là qúy nhất trên đời.
Những dấu hiệu biểu lộ sự mất mát
Khi mất người bạn đường, người ở lại sẽ có những tổn thương về cơ thể và tâm hồn.
Mệt mỏi, không có năng lực là triệu chứng thường thấy. Điều này cũng dễ hiểu , vì thương tiếc là một gánh rất nặng con người phải mang trong nhiều năm tháng với buồn rầu chồng chất.
Biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, bao tử ấm ách không tiêu đưa đến thiếu dinh dưỡng. Có người than phiền không nuốt nổi thức ăn vì buồn nôn, muốn ói. Táo bón hoặc tiêu chẩy cũng thường xẩy ra.
Giấc ngủ bị rối loạn vì đêm đêm thao thức nhớ thương. Tính tình thay đổi, gắt gỏng với mọi người. Có người thấy như nghẹn ở cổ họng, khó thở, nặng ngực, tim đập không đều, hồi hộp, nhức đầu, chóng mặt, mờ mắt. Từ năm 1944, Erick Lindermann đã nhận thấy là người goá bụa bị bệnh tim nhiều hơn người có vợ có chồng.
Nguy cơ bị các bệnh phong thấp, huyết áp cao, ung thư, bệnh ngoài da cũng gia tăng. Theo bác sĩ Glen Davidson, nguy cơ thiên đầu thống, trầm cảm kinh niên, đau lưng lên rất cao. Sức chịu đựng của cơ thể với bệnh tật cũng suy giảm rất nhiều.
Một nghiên cứu khác cho thấy là hệ thống miễn dịch giảm đi, nhất và từ tuần lễ thứ 8, do đó người thương tiếc rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.
Kết quả cuộc nghiên cứu tại Đại Học Louisville, Kentucky, năm 1988 cho hay tình trạng chung về sức khỏe của người tiếc thương bị suy giảm nhiều trong một vài năm, nhưng may mắn là không kéo dài lâu hơn.
Về tâm thần, người ở lại có những phản ứng, những cảm giác khác nhau. Có người rơi ngay vào sự sầu bi, tê dại, không có khả năng diễn tả cảm giác. Có người sống trong thương tiếc cả mấy năm, có người may mắn sớm vượt qua.
Diễn tiến của tiếc thương
Sau khi mất người thân yêu, có một hành trình đơn độc mà người ở lại phải đi qua. Thời gian này dài, ngắn, thương nhớ nhiều ít, thương nhớ ra sao là tùy theo hoàn cảnh mỗi cá nhân, giống tính, tín ngưỡng, phong tục và mối liên hệ với người đã chết. Mỗi hành trình có nhiều giai đoạn mà nếu biết trước ta có thể dễ dàng vượt qua.
Diễn tiến tiếc thương có thể là phản ứng mạnh, thu mình rồi thích nghi, hoặc tránh né, chống đối, và tái xây dựng.
Bác sĩ Elizabeth Kubler-Ross phân tích phản ứng tâm lý của người cận tử làm 5 giai đoạn: phủ nhận, cô lập, giận giữ, điều đình, chấp nhận. Tài liệu này cũng được nhiều nhà tâm lý học dựa vào để phân loại phản ứng của con người trước cái chết của thân nhân, bè bạn.
1- Phản ứng ngay sau khi người thân mệnh một là trạng thái tê dại, đờ đẫn, không cảm giác.
Có người nói tâm trạng lúc đó như ở trong cơn mơ, ngây dại như người không hồn. Sự tê dại này làm giảm niềm đau đớn, đôi khi khiến ta hành động như không có chuyện gì xẩy ra. Bề ngoài tưởng như bình tĩnh, sắp sếp việc ma chay, mà trong lòng thì tràn đầy những rối loạn, buồn lo.
2-Phản ứng không tin, phủ nhận
Với nhiều người, phủ nhận là phản ứng đầu tiên. “Tôi không tin là vậy. Nhà tôi không chết đâu. Chắc có sự lầm lẫn nào đó”. Đứng bên cạnh quan tài, họ liên tục kêu gọi người thân tỉnh dậy. Sự phủ nhận này đôi khi làm ta tạm quên nỗi đau lòng, bớt sợ hãi, lo âu.
Có người thì lý trí biết là thân nhân đã khuất bóng nhưng con tim không tin, nên cảm như thấy guơng mặt người đó còn ở đâu đây.
Phủ nhận này đưa đến nhiều hành động không thực tế như tiếp tục kêu gào, muốn mang họ trở lại dù biết là không thể được.
3- Giận dữ
Đây là một phản ứng thường thấy trong mọi mất mát, hướng về người ra đi, bạn bè, thầy thuốc hay với chính mình.
Với người ra đi thì, sao nỡ bỏ tôi một mình mà vội vã ra đi, để tôi cô đơn giữa bao nhiêu khó khăn. Rằng tôi đang cần bạn mà, bạn phải trở lại với tôi. Rằng nếu bạn tự săn sóc sức khoẻ như tôi hằng nhắc nhở thì đâu đến nỗi này...
Với chính mình thì, giá mình ở đó thì sự thể đâu có như vậy; giá mình đưa vào nhà thương hôm trước ...
Với nhân viên y tế thì các vị không làm hết sức để cứu chữa nhà tôi, các vị không nói rõ thực trạng nhà tôi để tôi kiếm thầy chuyên môn hơn.
Với mọi người thì nhà tôi mất chứ đâu phải người thân của họ mà họ khuyên với lơn.
Lại còn giận hờn cả Thượng Đế, Thánh Thần nữa là sao quá bất công, người thân hiền lành phúc hậu thì bắt đi mất, mà để người hàng xóm độc ác sống nhăn.
Phản ứng này rất bình thường, mau qua, vô hại nên không cần đè nén, giấu giếm vì nó giải toả được hết tâm trạng mình. Để còn tiến tới, tạo dựng tương lai.
4- Buồn rầu, trầm cảm
Khi đã nhận chân sự thực là người thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, thì buồn rầu, một nỗi buồn không chịu nổi, chỉ muốn chết theo cho xong. Đây là phản ứng đau đớn nhất và kéo dài lâu hơn cả trong diễn tiến tiếc thương.
Người thương tiếc cảm thấy không có sinh lực, mệt mỏi, chán chường, lẻ loi, mất ngủ. Trong lòng thì bồn chồn, ngồi đứng không yên. Lúc nào tâm tư ý nghĩ cũng hướng về người đã khuất, về kỷ niệm cũ, về những lúc bên nhau. Càng nghĩ tới lại càng thêm đau lòng, nức nở.
Có điểm đặc biệt là khác với buồn rầu, trầm cảm do những nguyên nhân khác, người tiếc thương tuy sầu bi nhưng không mất niềm tự tin, vẫn giữ được niềm tự trọng, không coi mình là vô dụng, phế bỏ.
5- Cô đơn, lẻ loi, sợ hãi.
Ở nhà bây giờ chỉ có một mình, với khoảng không lạnh lẽo nhớ những sinh hoạt có nhau. Lại có những sợ hãi về an ninh, sợ sẽ mất người thân khác, sợ mình sẽ mang bệnh như người đã khuất. Rồi tự trách móc là mình đã không làm hết bổn phận, không là người bạn đường tốt, rằng người đó đã ra đi mà mình còn ở lại.
Và bao nhiêu những nếu, giả dụ khác nữa. Đôi khi còn có mộng mị, thấy như người thân bằng xương bằng thịt ở đâu đây.
6- Thời kỳ trở lại với thực tại, hàn gắn mối thương lòng
Những giai đoạn của tiếc thương cần một thời gian để chấp nhận thực tại rằng người đó đã vĩnh viễn ra đi, để sắp xếp lại cuộc đời của mình. Thời gian này kéo dài lâu mau tùy hoàn cảnh, mức độ thân thiết với người đã khuất, khả năng đối phó của mình, sự hỗ trợ của thân nhân, bè bạn.
Nhiều người cho là tiếc thương có thể kéo dài tới 2 năm. Nhưng làm sao định được giới hạn cho tình cảm xúc động, Nó nguôi đi khi nào nó hết. Vả lại hàn gắn vết thương lòng cũng cần thời gian chứ nhỉ!
Cũng có trường hợp sự tiếc thương kéo dài lâu hơn với những phản ứng không bình thường: tiếp tục phủ nhận sự chết, không đau đớn buồn phiền, tự cô lập với xã hội. Có người quá ám ảnh với người thân yêu, tiếp tục đối thọai, kiếm cách đoàn tụ tới khi không đạt được thì buồn, cho mình bất lực. Và nghĩ tới việc quyên sinh theo người đã chết. Hoặc cho mình là nạn nhân của mất mát. Nhất là khi người thân đột nhiên ra đi khiến người ở lại trở nên suy yếu, chậm hàn gắn thương đau.
Kéo dài tiếc thương cũng được dùng như một trừng phạt người bỏ ta ra đi hay là một lo sợ sẽ bị cô đơn. Đôi khi vô tình ta khuếch đại nỗi đau lòng, đắm mình trong kỷ niệm, trong lãng mạn thương yêu xưa. Họ cho là chấm dứt thương đau sớm là không trung thành với người chết, do đó đã duy trì liên hệ với người chết thay vì với người sống để đi tới.
Làm giảm khó khăn trong diễn tiến tiếc thương
Trải qua một tiếc thương đau buồn, mỗi người có cách giải quyết riêng, đối phó riêng. Nhưng mục tiêu vẫn là tìm cách thay đổi hiện trạng, giảm thiểu khó khăn và không để khó khăn tràn ngập bao vây. Sẽ có những hành động tích cực của cá nhân cộng thêm sự giúp đỡ, hỗ trợ của họ hàng, bạn bè, lối xóm. Cho tới kỳ giỗ đầu là thời gian khó khăn nhất với nhiều vấn đề phải đối phó. Chẳng hạn:
a- Cảm xúc chưa ổn định, cần gia đình, bạn bè hỗ trợ, quan tâm an ủi, nghe nỗi lòng mình.
b- Khóc khi cần và khi có thể. Những giọt nước mắt trào ra sẽ sớm mang lại hàn gắn để đi tiếp cuộc đời.
c- Không hối hả vội vã rút ngắn giai đoạn tiếc thương. Mỗi tiếc thương là một độc đáo do liên hệ tình cảm, hoàn cảnh với người ra đi.
d- Sẵn sàng trải qua các giai đoạn tê dại, phủ nhận, buồn rầu sợ hãi, tức giận, cay đắng, tội lỗi, hối tiếc để rồi chấp nhận sự thực mà tạo hy vọng cho tương lai.
e- Duy trì hành xử tôn giáo, niềm tin để cầu nguyện cho mình và cho người thân.
g- Tâm sự với người đồng cảnh để nghe nỗi buồn của họ và để giải bầy nỗi buồn của mình, an ủi nhau. Đôi khi nói với, viết cho người đã khuất cũng làm nhẹ bớt thương đau.
h-Lần lần trở lại với sinh hoạt mới, đừng ngần ngại vui với đời, e ngại là sớm phản bội tình yêu. Vì đó cũng là ý muốn của người đã khuất.
i- Luôn luôn nhớ mình còn một tương lai dài để đi qua,
còn nhiều lý do tốt lành để sống, cần nhiều nghị lực để chịu đựng, để tìm lại ý
nghĩa và thích thú của sự sống. Hãy nhìn vào tương lai và sẵn sàng đón đợi ngày
vui, hòa nhịp với cuộc đời.
k- Chăm sóc sức khỏe, ăn uống đầy đủ, ngủ nghỉ điều độ, duy trì vài vận động cơ thể để có sức mà mang gánh nặng tiếc thương. Nên để ý là rối loạn giấc ngủ thường hay xẩy ra.
l- Đọc sách, cầu nguyện, làm việc lặt vặt cho tới khi mệt có thể dỗ giấc ngủ. Đừng lệ thuộc vào thuốc an thần để trấn áp đau đớn tâm hồn hay để ngủ cho quên sự đời. Thuốc chỉ che đậy tạm thời nỗi đau, nếu ta không ứng phó thỏa đáng.
m- Dành cho mình những phút riêng tư để nghe tiếng nói tự cõi lòng cũng như để trầm tư, thiền định .
n- Giải quyết các vấn đề tài chánh, pháp lý. Kiểm kê giấy tờ bảo hiểm các loại, giấy khai tử, di chúc, an sinh xã hội. Ước định tình trạng tài chính, ngân hàng, lập kế hoạch chi thu trước khi có quyết định lớn cho nếp sống, ở đâu, ở với ai.
o- Thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày, tiếp tục duy trì giao du với bạn bè, thân hữu. Sẵn sàng tham dự, sửa soạn cho những dịp lễ tết với mọi người.
p- Hãy kiên nhẫn và khoan dung với chính mình, tin tưởng rằng diễn tiến tiếc thương dù có lâu dài, có đau đớn nhưng rồi cũng được hàn gắn.

Kết luận

Ta có tự do lựa chọn để yêu một người mãi mãi. Nhưng không có gì bảo đảm là người đó sẽ ở bên ta trọn đời hay trong một thời gian nhất định. Có gì là vĩnh cửu ở cõi đời này.
Mất mát, tiếc thương là điều không tránh khỏi. Nhưng kéo dài tiếc thương bao lâu, tiếc thương nhiều, ít thế nào để không chìm đắm trong sầu bi khổ lụy là điều tùy ta lựa chọn: muốn hòa vui với người sống hay vùi đầu trong ám ảnh với người chết.
Xóa nhòa tiếc thương cũng chỉ là để nói giã từ người thân, tháo gỡ những cảm xúc, ưu tư về một cái chết. Chứ không phải là chấm dứt tình cảm, quên người thân, bỏ dĩ vãng.
Xa dần tiếc thương là đưa cảm xúc này từ chỗ nổi vào chỗ chìm, để không mang đau thương vào những bước đi, nhịp sống,
Và không tự hành hạ. Để còn phải tích cực đi tiếp đoạn đường còn lại.
Vì như Cicero đã nói:“ Chẳng có sự sầu não nào không nguôi dần và lắng dịu với thời gian”.
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Nguồn: BS Nguyễn Ý Đức, ngày 27/09/2012 truy cập từ
http://ykhoa.net/cactacgia/nguyenyduc/anhuongtuoivang/09_7_Thuong%20tiec.htm.

Đẳng cấp là đẳng cấp nào?

(TBKTSG) - Một bài báo gần đây viết về hiện tượng một số ca sĩ, diễn viên, người mẫu (được gọi chung là “sao Việt”) đua nhau mua nhà “triệu đô” với nhận định: “Họ tậu nhà không chỉ để ở mà còn muốn qua đây thể hiện đẳng cấp của mình”.
 
Một bài báo khác viết về một cô sinh viên Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, một “tín đồ” của hãng thời trang cao cấp Gucci, con út trong một gia đình kinh doanh bất động sản, nổi tiếng là một “dân chơi” đất Hà thành, theo tác giả bài báo. Cô sinh viên tuyên bố: “Bình thường mình chỉ dùng túi xách hơn 1.000 đô la Mỹ nhưng ngày Tết ưu tiên hơn, khoảng 3.000 đô la Mỹ”, và giải thích: “Như vậy mới thể hiện được đẳng cấp”.
Không biết, trong câu chuyện thứ nhất, chuyện muốn “thể hiện đẳng cấp” có thực sự là suy nghĩ của tất cả các “sao Việt” hay chỉ là suy nghĩ của phóng viên gán cho họ theo cách nói, cách viết đã thành thói quen?
Còn trong câu chuyện thứ hai, nếu lời trích dẫn là đúng, chính cô sinh viên đã tự khẳng định ý muốn này. Như vậy là từ những người kiếm được nhiều tiền trong lĩnh vực hoạt động giải trí đến cô sinh viên còn sống dựa vào gia đình, ai cũng muốn “thể hiện”, nói thẳng ra là muốn khoe cái “đẳng cấp” của mình.
Có điều, cả người viết lẫn các nhân vật đều không xác định cái đẳng cấp mà họ muốn thể hiện là đẳng cấp gì? Đẳng cấp nghề nghiệp? Chắc không phải, vì đang nói tới chuyện tậu nhà tậu cửa, chuyện xài hàng hiệu chứ đâu phải chuyện nghề nghiệp, chuyện học hành, chuyện tri thức? Vậy chỉ có thể hiểu là “đẳng cấp” trong tiêu xài.
Tiêu xài thì có gì phải nói, phải bàn? Ai thích gì và có tiền để thỏa mãn ý thích của mình thì cứ việc. Nghèo thì ở nhà chật, có tiền hơn một chút thì đổi căn nhà rộng hơn, ở thoải mái hơn... Giàu thì sắm biệt thự, căn hộ cao cấp. Nghèo thì ba lô túi xách lèng xèng, có tiền thì mua thứ đẹp hơn một chút, giàu nứt đố đổ vách thì cứ mua hàng hiệu xài. Chẳng có gì phải nói, phải bàn. Nhưng muốn ở cho sướng thì cứ nói, cứ viết là muốn ở cho sướng; muốn xài túi xách mấy ngàn đô cho sang thì cứ nói, cứ viết là thích xài đồ sang chứ đừng lạm dụng các khái niệm.
“Đẳng cấp”, “bản lĩnh”, “phong cách”… là những khái niệm nói lên các giá trị thực nhưng bây giờ đã được dùng để chỉ những thứ không phải là giá trị. Nhiều khái niệm, nhiều từ ngữ gần đây đã bị ngành công nghiệp quảng cáo, truyền thông, tiếp thị lạm dụng, làm cho méo mó và mất hết tất cả nội hàm nguyên thủy của chúng. “Bản lĩnh” chỉ còn là bản lĩnh đàn ông biết uống bia, “phong cách” chỉ còn là kiểu khoe mẽ của dân chơi, và “đẳng cấp” đang dần trở thành chuyện khoe của.
Thật ra chúng ta đang rất cần đẳng cấp, bản lĩnh, phong cách trong nhiều lĩnh vực: đẳng cấp về khoa học công nghệ, về giáo dục đại học, về tổ chức giao thông; bản lĩnh trong ứng phó với thiên tai, với các “tay chơi” lớn trên trường quốc tế sao cho không để bị người ta ép; phong cách trong kiến trúc, xây dựng, trong văn hóa, đời sống cộng đồng…
Đó chỉ là một vài ví dụ về những thiếu thốn của chúng ta. Và truyền thông, thay vì tốn thời gian, công sức săn và gián tiếp cổ xúy cho những “giá trị” không thực sự là giá trị, có lẽ nên chú ý hơn tới những giá trị thực và những bức xúc rất thực của xã hội hôm nay.

Quỳnh Yên

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 04/02/2010, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/giaitri/tanvan/29609/Dang-cap-la-dang-cap-nao?.html.

Đạo văn: nhân và quả

(minh họa: Khều)
TBKTSG) - Việc phó giáo sư... “luộc” giáo trình của giáo sư…, xin miễn nêu tên, sẽ còn tái diễn dài dài khi nào mà hệ thống học thuật hiện hành chưa thay đổi tận gốc, khi mà xã hội vẫn còn xem việc “sao chép” như là đương nhiên, được phép, thậm chí khuyến khích.

Khi còn bé, đi học là gì nếu không phải là học thuộc lòng như vẹt. Cho đến khi lên đại học, lại tiếp tục là đọc chép. Sao chép từ bài vở đến cách thức và nội dung phát biểu. Hậu quả là hầu như mọi người đều viết, nói cùng một cách, với cùng những câu chữ, kể cả những điều sai trật hoặc không “hay ho”.
Như cụm từ một là, hai là, ba là… của văn nói không chỉ được sao chép trong khi nói, mà còn được bê vào văn viết, văn nghị quyết, trong khi ngữ pháp khuyến cáo bớt thì, là, mà… Có một dạo, trên truyền hình có cô phát thanh viên ấm ớ nào đó đọc từ ha (hecta - hectare) thành [ha], vậy mà cũng có khối anh đọc (bậy) theo: “… diện tích 100 ha”! Gần đây còn đọc theo kiểu ký hiệu toán: “tốc độ sáu mươi cây số trên giờ” thay vì đơn giản đọc là “tốc độ sáu mươi cây số một giờ”.
 
Chẳng qua, đó là kết (hậu) quả của quá trình “sao chép”, “văn mẫu”, đạo văn trong suốt hệ thống học tập, học để tập theo chớ không phải học để hành. Xin lỗi, cách học để tập theo đó, tiếng Pháp gọi là singerie (từ nguyên = singe: con khỉ). Còn tệ hơn cách học “Tử viết” (Đức Khổng Tử dạy rằng…) ngày xưa.
Đáng phiền là những “Tử viết” của thế kỷ 20 và nay là thế kỷ 21 lại mang tính “pháp lệnh”, được định chế hóa qua câu: “Sách giáo khoa là pháp lệnh”. Sách có sai nhưng các thầy cô cứ dạy theo, không được sửa!
Sẽ không quá lời khi nói rằng hầu như cái học ngày nay, từ tiểu học đến trên đại học là cả một quá trình tự nguyện sao chép văn mẫu, chứ không là một công cụ, một chìa khóa để tự tìm tòi, tự khai phóng, tự suy nghĩ, phát biểu.
Cách học “Tử viết” đó đồng nghĩa với độc đạo. Và khi độc đạo thì cho dù có là xa lộ cao tốc cũng chỉ dẫn đến… một “cái-gọi-là-La-Mã” nào đó, chứ không phải La Mã.
Lẽ ra, phải là cái Học (viết hoa), cái học minh triết, chữ triết như từ “triết” trong danh từ “triết học” (philosophy) trong cụm từ “Doctor of Philosophy” (viết tắt là học vị Ph.D. - tiến sĩ). Cái học để đi đến minh triết đó là gì, nếu không phải là để yêu thích (philo) đặt câu hỏi về bản chất, nguyên nhân, nguyên tắc của một thực tế, tri thức hay giá trị (sophos)? Với cái học minh triết đó, chẳng ai dám vỗ ngực tự nhận chỉ có mình mới đến La Mã. Tiếc là cái học minh triết ấy đã không được cổ võ, trong khi cái học “Tử viết” lại được hiểu như là cái lan can bảo đảm sự đỗ đạt, sự thăng quan tiến chức.
Thế cho nên, khi quy tất cả học thuật về một mối “Tử viết”, thì đó chính là sự kết thúc của cái học minh triết. Khi không học theo cái học minh triết, thì khả năng đặt câu hỏi, đặt vấn đề, tự tìm tòi, tự sáng tạo cứ thế mà bị thui chột. Chỉ còn sự sao chép, còn sự quan sát, phân tích, cân đong, đo đếm, tính toán, trừu tượng hóa… cứ thế mà “liệt” dần.
Chính sự sao chép không hề bị xử phạt đó, trái lại được đồng tình, cổ võ, đã biến hành vi sao chép của từng cá nhân thành một tập quán xã hội. Một khi từ tấm bé đã được “ban phép lành” khi sao chép trong nhà trường, lớn lên vô quan trường cũng thế, thì có rủ nhau “luộc” luận văn, giáo trình, bài vở, bài báo, văn bản, thơ văn… của người khác cũng là chuyện đương nhiên, như hít thở.
Văn hóa chính là gieo trồng (cultura: trồng trọt, văn hóa). Khi loài người thôi hái lượm như khỉ, biết gieo trồng để có hoa trái mà ăn, thì đó chính là khởi đầu của văn hóa. Khi hái lượm có sẵn, thì đó là trở về với sự nhái lại, singerie.

Danh Đức

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 29/04/2010, truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/giaitri/tanvan/33620/Dao-van-nhan-va-qua.html.

Con hư tại mẹ, trò dở tại thầy!

(TBKTSG) - Thuở còn là học sinh tiểu học, không hiểu sao tôi lại đắc ý với câu chuyện “anh hàng giày đòi làm nhà phê bình nghệ thuật”! Chuyện kể về một chàng họa sĩ vì quá cầu toàn nên đặt tranh vừa vẽ ở lề đường rồi núp phía sau để lén nghe tiếng bấc tiếng chì.

Có anh thợ giày đi ngang lớn tiếng chê bai vì chiếc giày trong tranh vẽ sai mấy chỗ. Họa sĩ nghe đúng lý nên đêm đó chong đèn sửa ngay. Hôm sau, thấy giày đã chỉnh, anh thợ giày được nước chỉ trích lung tung, từ màu nền đến nước bóng! “Thợ vẽ” chịu hết nổi nên nhảy ra phản pháo bằng câu “này anh hàng giày, xin anh đừng trèo cao hơn chỗ của chiếc giày!”.
Câu chuyện rất đơn giản, rất đời thường mà càng đọc càng thấm thía với nỗi khổ của nghệ nhân có tài “họa long điểm nhãn” nhưng lại quên kích thước của... chiếc giày!, với niềm vui của anh thợ đóng giày rất khéo nhưng nói leo qua chuyện mỹ thuật thì chỉ được nước... ba hoa chích chòe!
Vị trí đặt quảng cáoTừ câu chuyện nằm lòng tôi chỉ xin lạm bàn về hai tiếng “thực học” dưới lăng kính của người theo nghề làm thuốc. Nếu vào mấy thập niên trước đây, thầy nào tệ lắm cũng có vài trò xuất sắc để thầy yên tâm nhắm mắt thì nay các thầy liệu đang có bao nhiêu học trò tâm đắc về y đức? Có bao nhiêu học trò giỏi hơn thầy về chuyên môn?
Đáng tiếc, đáng buồn, thậm chí rất đáng lo vì nếu trò không khá hơn thầy thì y khoa không thể tiến bộ, thì bệnh nhân không thể được phục vụ với hiệu năng như người người mong đợi, cho dù ngành y có tự hào thế nào về tiến bộ kỹ thuật.
Nghề y làm sao có thể xứng đáng với hai tiếng y thuật nếu thầy thuốc trẻ xứ mình không thể thay thế đàn anh vì quá non tay ấn?! Thế thì tại sao trò hiện nay khó giỏi hơn thầy, mặc dầu trò bây giờ có thừa phương tiện học tập hơn thầy ngày xưa?
Ông bà dạy “có học phải có hành”. Điều đó không chỉ có nghĩa là muốn học cho nhập tâm phải thực hành, mà còn là học sao để khi hết học có thể hành... nghề giúp ích cho mình, rồi cho người, cho đời! Tôi đã bỏ giờ tham dự nhiều buổi giảng ở đại học y dược, tôi đã quan sát sinh viên thực tập ở các bệnh viện. Tội nghiệp cho các bạn trẻ! Họ khó giỏi hơn thầy, hơn người đi trước, cho dù họ không thiếu khả năng chuyên môn.
Lý do rất đơn giản, đó là vì họ không có nhiều cơ hội để thực tập trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, nếu so với thời tôi còn là sinh viên trường thuốc. Một mặt, nhiều điều kiện ràng buộc về trách nhiệm, về cơ chế... khiến các bậc đàn anh dù muốn cũng khó lòng mạnh dạn giao công việc cho đàn em. Nếu ngày xưa nhiều sinh viên mới năm thứ hai đã có thể đảm nhiệm một số thao tác quan trọng trong cấp cứu, tiểu phẫu... thì hiện nay không thiếu sinh viên năm cuối chưa biết tiêm thuốc!
Mặt khác, chương trình thực tập không đi sát với nhu cầu thực tế đủ để người theo học vừa hứng thú thâu thập kinh nghiệm thực tiễn qua công việc cụ thể, vừa gắn bó với tinh thần trách nhiệm. Ngày xưa, tuy mới đến năm thứ ba nhưng không có gì lạ nếu anh bạn này sành về kỹ thuật thông khí quản, chị kia mát tay khi đỡ đẻ... trong khi sinh viên năm cuối bây giờ có thể nói dông dài cả giờ về một chuyên đề nặng phần lý thuyết, nhưng không biết đo... huyết áp!
Bên cạnh đó, chương trình lý thuyết lại quá nặng nề khiến sinh viên kiệt lực vì nhiều đề tài xa rời tính thực dụng! Phải khen sinh viên nước mình mới đúng lẽ công bằng vì họ phải nuốt cho trôi một chương trình học trong đó tối thiểu một phần ba thuộc về tu nghiệp hậu đại học, nếu so sánh với các nước khác. Tội cho học trò, tội luôn cho người bệnh, vì sinh viên y khoa nước ta dường như không được huấn luyện để phục vụ bệnh nhân Việt Nam trong bối cảnh đặc thù của xứ mình, với phương tiện thật gần trong tầm tay. Trái lại, họ đang “bị” giảng dạy cứ như để sau này chữa trị cho người... nước ngoài!
Ngay cả mô hình thi cử cũng thế. Nếu mục tiêu của khảo hạch là để gián tiếp tổng kết và nhắc nhở học trò về các điểm quan trọng nhất trong những điều họ đã được học thì tiêu chí này rõ ràng hãy còn rất xa lạ với nội dung của nhiều bài thi cuối năm hay tốt nghiệp. Tôi đã đọc nhiều đề thi. Tôi có cảm tưởng nhiều thầy dường như mượn kỳ thi để trả thù học trò! Đôi khi tôi không tránh được cảm nghĩ là dường như thầy ra đề ác đến thế vì thầy thậm chí hãnh diện nếu trò thi... rớt! Thầy chỉ quên là trò dại khờ chẳng qua vì thầy quá... vụng!, vì trò chính là “tác phẩm” của thầy!
Với một mô hình giáo dục như thế thì không lạ gì nếu đa số thầy thuốc trẻ bơ vơ khi bước xuống cuộc đời. Thực tài không là chuyện trời cho mà là kết quả đổ mồ hôi sôi nước mắt sau nhiều ngày khổ học. Với nghề nào cũng thế. Điều đó càng rõ nét gấp trăm lần với nghề thầy thuốc. Đòi thầy thuốc trẻ giữ cho được cái tâm nhưng lại không trang bị cho họ đủ cái trí thì thầy thuốc sớm muộn cũng khó lòng giữ nổi chữ tín với bệnh nhân, với chính mình, với lương tâm của thầy thuốc.
Tuy có thừa thực tâm lúc mới ra trường nhưng thiếu thực tài khi va chạm với đời thì đồng tiền sớm muộn cũng đâm toạc tờ giấy. Không ai đòi hỏi trò nào cũng giỏi hơn thầy, nhưng dạy học trò mà không giỏi được gần bằng thầy quả thật chẳng khác nào đẩy người chưa biết lội xuống sông sâu. Tất nhiên cũng có người sống sót nhưng không thể đánh giá chuyện đó như thành quả, vì cho dù có hay thì chẳng qua chỉ là cái hay bùi ngùi như trong truyện Kiều, cái hay nghe ngậm đắng nuốt cay thế nào!
Hiểu biết là động từ kép. Học trò không thể biết nếu chưa hiểu. Áp dụng cũng là động từ kép. Không “dụng” cho xong thì chỉ còn nước “áp” đặt kiến thức, nghĩa là bức tử óc sáng tạo. Mục tiêu thực học của ngành giáo dục hoàn toàn bất khả thi, chỉ là bóng ảo cuối đường, chỉ là tiếng kêu não nùng của cánh nhạn lạc bầy, nếu tiếp tục đơn phương đòi hỏi trò phải tự xoay trở để học sao cho giỏi. Muốn được như thế thì thầy trước tiên phải chứng tỏ khả năng “thế thiên hành đạo”, thay vì bỏ rơi học trò trong cảnh “vạn lý độc hành”! Ngày nào học trò chưa giỏi thì lỗi là do thầy thiếu thực học, là do thầy có bằng thật nhưng học giả, do thầy cố học chỉ để có học vị nhằm mục tiêu tiến thân.
Lời thật khó tránh mất lòng! Nhưng nhiều khi thuốc đắng, thuốc thật đắng mới mong dã tật. Không dễ để tái thiết kế một nền giáo dục trọn nghĩa thực học. Nhưng con đường nào, nói theo Lão Tử, dù chông gai cách mấy, cũng phải bắt đầu bằng một bước, bước đầu tiên! Hay hơn nhiều là mạnh dạn bước tới theo lời khuyên của Lỗ Tấn, vì “cứ đi rồi sẽ thành đường”.
Thương biết mấy, học trò nước tôi!

Bs. Lương Lễ Hoàng

Nguồn: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn Online, ngày 29/07/2010, truy cập từ
http://www.thesaigontimes.vn/Home/giaitri/tanvan/38265/Con-hu-tai-me-tro-do-tai-thay!.html.