Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Hãy để ý đến huyết áp của mình

(TBKTSG) - Ở Việt Nam, cứ bốn người trưởng thành (25-64 tuổi) có một người mắc bệnh cao huyết áp và con số này đang tiếp tục tăng lên. Bài viết dưới đây mang lại vài lời khuyên nhằm giảm tác hại của “căn bệnh quốc gia” này.

“Người ta thật dễ lâm vào mê hồn trận được gây ra bởi tin tức hàng ngày về sức khỏe và dược phẩm. Hôm nay báo này viết cà phê có lợi thế này, nhưng ngày mai báo nọ lại nói nó làm mất ngủ rồi gây bệnh”.
Bên trên là câu mở đầu của một bài viết gần đây đăng trên tạp chí mạng Slate của TS. Marc Siegel, giáo sư y khoa thuộc Trung tâm Langone, Đại học New York, Mỹ.
Ông viết rằng mới hôm nay bệnh dịch nguy hiểm nhất được khẳng định không gì khác hơn là Ebola, thì hôm sau đã chuyển qua vi khuẩn West Nile. Đó là vì tin tức về sức khỏe đến rồi đi dưới góc nhìn phiến diện của truyền thông, ông giải thích.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng lại có vài công bố y học khiến ông và nhiều đồng nghiệp phải thay đổi cách thức hành nghề. Điển hình, theo TS. Siegel, là một công trình về cao huyết áp vừa được công bố.
Ông cho rằng lâu nay các bác sĩ và bệnh nhân của họ cứ tự hỏi con số huyết áp lý tưởng là bao nhiêu đối với người có nguy cơ nhồi máu cơ tim và xuất huyết não. Các lý thuyết lẫn hướng dẫn thực hành đều nói rõ rằng phải giữ huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) của người bệnh dưới 140mm thủy ngân.
Siegel cho biết cứ ba người Mỹ thì có một người cao huyết áp, và người Mỹ nào cũng có [ít nhất] một người thân bị bệnh này. Thành ra, đây là bệnh của cả xứ (giống Việt Nam ghê!). Tuy nhiên, chỉ phân nửa số bệnh nhân bị chẩn đoán cao huyết áp được theo dõi điều trị (lại giống y chang Việt Nam). Theo số liệu của CDC (Trung tâm Phòng chống bệnh), mỗi năm có khoảng 800.000 người Mỹ bị xuất huyết não.
Công trình làm vị bác sĩ thay đổi cách nhìn như đề cập ở trên do Sprint, một cơ quan chuyên nghiên cứu các can thiệp vào huyết áp, thực hiện. Kết quả nghiên cứu trên 9.000 bệnh nhân cao huyết áp khắp nước Mỹ từ năm 2010-2013 cho thấy khi huyết áp được kéo xuống 120mm thay vì 140mm (mức được xem là bệnh cao huyết áp), thì bệnh nhân có ít hơn 30% nguy cơ suy tim, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, và giảm 25% nguy cơ mất mạng. Nghiên cứu được tiến hành ở các bệnh nhân có tuổi trung bình 68.
Theo kinh nghiệm của chính TS. Siegel, bệnh nhân cao huyết áp thường e ngại khi phải dùng thuốc vì các tác dụng phụ như choáng váng, bất lực và mệt mỏi kéo dài, khiến các phương án điều trị không phát huy được tác dụng tối đa. Tuy việc thay đổi thói quen ăn uống, tập thể dục và ngăn ngừa tăng cân là những biện pháp hàng đầu, nhưng sử dụng thuốc là điều không thể tránh khỏi với nhiều người.
“Giờ đây khi biết rằng có sự khác biệt đáng kể giữa hai số đo huyết áp tâm trương 140mm và 120mm trong các bệnh nhân của tôi, tôi sẽ chủ động hơn nhiều khi thuyết phục họ phải tìm cách hạ thấp số đo huyết áp”, TS. Siegel viết.
Huyết áp hơi cao cũng có thể trở thành vấn đề
Một công trình tổng hợp các nghiên cứu đã thực hiện cũng cho thấy người có huyết áp cao hơn mức bình thường - dù chưa phải cao huyết áp - vẫn có nguy cơ bị đột quỵ do chảy máu não (stroke) nhiều hơn, một bài báo của Reuters cho biết.
Huyết áp được thể hiện qua hai con số, huyết áp tâm thu (khi tim co bóp) và huyết áp tâm trương (khi tim dãn ra). Hai chỉ số này ở người bình thường là 120mm và 80mm. Nếu trên 140mm và 90mm thì bị xem là cao huyết áp. Các số đo ở giữa các ngưỡng này được xem là tiền cao huyết áp (prehypertension).
Reuters dẫn một bài viết trên Journal of Neurology (tạp chí Thần kinh học) của TS. Yuli Huang thuộc Đai học Y khoa Miền Nam, Quảng Đông, Trung Quốc, cho biết các nghiên cứu trước đây thường chú ý đến các trường hợp đột quỵ với các số đo tiệm cận với cao huyết áp, chứ ít chú ý đến trường hợp chỉ cao hơn mức an toàn chút ít. Tuy nhiên, sau khi tổng hợp 19 nghiên cứu với hơn 762.000 người khắp thế giới, nhóm của TS. Huang thấy rằng người thuộc nhóm tiền cao huyết áp vẫn có 66% nguy cơ đột quỵ cao hơn so với người bình thường.
Ông phân biệt hai nhóm gồm “tiền cao huyết áp thấp” (có số đo từ 120/80mm đến 129/84mm) và “tiền cao huyết áp cao” (từ 130/85mm đến 139/89mm) và nhận thấy nhóm đầu có 44% nguy cơ đột quỵ cao hơn so với người bình thường trong khi nhóm thứ hai có nguy cơ cao hơn đến 95%.
Theo số liệu của bệnh viện Cleveland Clinic ở bang Ohio, Mỹ, đàn ông ở khoảng tuổi 60 có xác suất 11% bị đột quỵ trong vòng 10 năm. Có 44% nguy cơ cao hơn có nghĩa là xác suất sẽ tăng lên 16%.
Như vậy, ngay cả trong giai đoạn tiền cao huyết áp, các bác sĩ cũng cần khuyến khích bệnh nhân của mình thay đổi lối sống, bao gồm thay đổi thói quen ăn uống và siêng năng luyện tập thể dục, thể thao.
Nên tự theo dõi huyết áp của mình
Theo một bài báo khác của Reuters, nghiên cứu gần đây ở Anh cho thấy bệnh nhân cao huyết áp chủ động theo dõi huyết áp và điều chỉnh thuốc của mình theo chỉ dẫn can thiệp chi tiết của bác sĩ có thể làm giảm các số đo huyết áp tốt hơn so với người chỉ dựa vào nhân viên y tế đo huyết áp và cho thuốc định kỳ.
Biện pháp can thiệp bao gồm lập ra kế hoạch chi tiết với bác sĩ, trong đó bệnh nhân tự đo huyết áp hàng ngày và điều chỉnh thuốc của mình theo như chỉ dẫn. Sau một năm, biện pháp mới này đã giúp bệnh nhân quản lý tốt hơn huyết áp của mình, đồng thời hạ thấp các số đo huyết áp.
Nghiên cứu nói trên được khảo sát từ 552 bệnh nhân cao huyết áp với tiền sử đã có bệnh lý nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tiểu đường và thận. Phân nửa số bệnh nhân tham gia được hướng dẫn can thiệp chi tiết, trong khi nửa còn lại giữ như cũ, nghĩa là đo huyết áp và lấy thuốc định kỳ tại cơ sở điều trị.
Vào đầu cuộc nghiên cứu, huyết áp trung bình của tất cả bệnh nhân là 144/80mm. Một năm sau đó, những người tự theo dõi huyết áp và điều chỉnh thuốc dùng liều thuốc cao hơn, trung bình cần 3,3 liều mỗi ngày so với 2,6 liều của nhóm đối chứng không tự theo dõi huyết áp. Cả hai nhóm đều có huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) thấp hơn sau một năm thử nghiệm. Tuy nhiên, số đo của nhóm đầu (nhóm tự theo dõi huyết áp) thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng, trung bình là 128mm so với 138mm của nhóm sau.
“Sự khác biệt quan sát được trong nghiên cứu này rất có ý nghĩa”, TS. Steven Nissen, thuộc Bệnh viện Cleveland Clinic, nhận đinh. Theo ông, bất kỳ sự tụt giảm từ 2 hay 3mm trở lên đã là đáng kể. Vì thế, dù rằng kết quả nghiên cứu không thể kết luận ngay rằng nhóm theo dõi tích cực có tránh được đột quỵ tốt hơn hay không, huyết áp thấp hơn thường dẫn đến kết quả tốt hơn về lâu về dài.
Tuy nhiên, TS. Nissen cảnh báo rằng không phải ai cao huyết áp cũng có thể tự theo dõi huyết áp và điều chỉnh thuốc cho mình. Bệnh nhân cần trao đổi cẩn thận với bác sĩ điều trị về vấn đề này và không nên “tự làm bác sĩ cho mình”.

Quỳnh Thư

Nguồn: Thời Báo Kinh tế Sài Gòn ngày 22/10/2015 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/137038/Hay-de-y-den-huyet-ap-cua-minh.html. 

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Những mốc tuổi cần kiểm tra sức khỏe

Ở độ tuổi 20, phụ nữ cần làm xét nghiệm Pap để tầm soát ung thư cổ tử cung. Nam giới nên lưu ý kiểm tra tinh hoàn. Tuổi 30, nữ giới lưu ý ung thư vú, và nam giới là đại trực tràng...

Những mốc tuổi cần kiểm tra sức khỏe 
Thuận An - Lan Lan (theo Greatist.com) 






Nguồn: VN Express ngày 27/12/2014 truy cập từ http://vnexpress.net/infographic/tu-van/nhung-moc-tuoi-can-kiem-tra-suc-khoe-3126534.html. 

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

​Nỗi đau không phải ai cũng hiểu

TT - Trong cuộc sống hằng ngày có những nỗi đau thể xác nhưng không thể nói cho ai được.  

Thạc sĩ - bác sĩ Dương Phước Hưng - trưởng khoa hậu môn trực tràng Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM, chuyên gia về lĩnh vực hậu môn trực tràng - trao đổi về nỗi đau này.
BS Dương Phước Hưng, trưởng phân khoa hậu môn - trực tràng (trái) trao đổi với BS Hoài Nam - Ảnh: H.T.V.

* PGS.TS Nguyễn Hoài Nam: Thưa anh, nỗi đau thầm kín mà nhiều bệnh nhân không biết tâm sự cùng ai có phải là đau do bệnh rò hậu môn không?
- ThS.BS Dương Phước Hưng: Đúng vậy, bệnh này có khá nhiều người bị và đứng thứ hai sau bệnh trĩ trong các bệnh lý của hậu môn trực tràng. Bệnh còn có tên gọi đơn giản là bệnh mạch lươn của hậu môn. Những đường rò thường bị nhiễm trùng có mủ, gây đau khiến họ đứng ngồi không yên và tạo ra rất nhiều bất tiện cho sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.
* Biểu hiện chính của bệnh này là gì?
- Biểu hiện rất đơn giản đó là đau vùng hậu môn trực tràng và xuất hiện một vài vùng bị viêm tấy sau đó vỡ ra và có mủ. Nhưng do tổn thương ở vùng đặc biệt nhạy cảm này nên phần lớn bệnh nhân đều âm thầm chịu đựng, rất ít chia sẻ cùng ai và không đi khám bệnh. Chỉ đến khi bệnh nặng lắm mới chịu chia sẻ cùng bác sĩ thì lúc đó cũng khá khó khăn cho việc điều trị rồi.

* Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là gì vậy?
- Bệnh có nhiều nguyên nhân, nhưng ở Việt Nam nhiều nhất là do ápxe vùng hậu môn, do lao, trên những bệnh nhân bị ung thư máu và bệnh tiểu đường.
Có khá nhiều bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp là một dạng điển hình của bệnh ung thư máu hoàn toàn không có triệu chứng gì cả, chỉ bị bệnh rò hậu môn thôi, đến khi chuẩn bị phẫu thuật làm các xét nghiệm về máu thấy công thức máu bị giảm cả ba dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu mới phát hiện bệnh nhân bị bệnh ung thư máu.

* Với bệnh nhân bị rò hậu môn cần phải tầm soát vấn đề gì?
- Có ba loại xét nghiệm rất cần thiết để tầm soát nguyên nhân của nỗi đau không biết tỏ cùng ai, đó là chụp phim X-quang phổi xem bệnh nhân có bị bệnh lao hay không. Xét nghiệm đường huyết và đường trong nước tiểu xem có bị bệnh tiểu đường.
Và xét nghiệm công thức máu xem có bị bệnh ung thư máu hay không. Đó là ba xét nghiệm tầm soát nguyên nhân bắt buộc trong bệnh này, nếu bỏ qua rất dễ có những chuyện không hay trong quá trình điều trị.

* Cho đến ngày nay, việc điều trị bệnh rò hậu môn có gì mới hay không?
- Mặc dù nền y học trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều tiến bộ, nhưng việc điều trị bệnh rò hậu môn vẫn dựa trên cơ sở phẫu thuật cắt bỏ đường rò là chính.
Việc cắt đường rò sẽ rất khó khăn đối với những đường rò phức tạp hay đường rò hình móng ngựa, cho nên trước khi phẫu thuật các bác sĩ thường cho bệnh nhân siêu âm hậu môn để tìm lỗ trong của đường rò, và nếu cần thiết cho chụp phim X-quang đường rò với thuốc cản quang để xác định hình thái của đường rò. Từ đó mới quyết định cắt đường rò như thế nào.

* Có bao giờ mổ xong đường rò bị tái phát không?
- Tái phát là chuyện thường ngày đối với phẫu thuật cắt bỏ đường rò. Chỉ với những đường rò đơn giản một lối thông thì bác sĩ phẫu thuật mới chắc chắn với bệnh nhân là bệnh không bị tái phát, còn với những đường rò phức tạp, nhiều ngóc ngách mà phần lớn bệnh nhân Việt Nam đều bị thì khó lắm, có khi phải mổ đến hai ba lần. Bệnh nhân cũng khổ mà thầy thuốc còn khổ hơn.

* Như vậy anh có lời khuyên nào cho những người đang bị bệnh rò hậu môn không?
- Có chứ, đừng ngại ngùng, hãy tâm sự cùng bác sĩ để tìm cách giải quyết nỗi đau mà không phải ai cũng hiểu của bạn.

Đừng chủ quan với nhọt ở mông
Hai năm trước tôi phát hiện cạnh hậu môn có mụn nhọt, to dần, tấy đỏ và có cồi. Mụn nhọt không đau lắm, lại ở chỗ kín nên tôi không nói với ai, khi nhọt có mủ vàng tôi tự nặn ra nhưng không thể nặn hết cồi.
Sau đó mỗi lần đi ngoài tôi đều rờ thấy phần cồi cứng nhỏ bằng đốt ngón tay, nó chẳng làm hại ai nên tôi chủ quan không đi khám bác sĩ. Vài tháng sau nhọt lại mọc đúng chỗ cái cồi, tôi lại nặn ra.
Trong hai năm cái nhọt này tái phát khoảng năm lần. Lần thứ năm tôi phát hiện dù mụn nhọt là cồi cứng nhưng ngay giữa mụn nhọt hơi mềm lõm vào trong. Lên mạng tìm kiếm, tôi cảm nhận có triệu chứng của rò hậu môn nên đến bác sĩ chuyên khoa ngay.
Lên bàn mổ, theo chỉ định của bác sĩ, tôi đinh ninh mọi thứ sẽ nhẹ nhàng. Ca mổ khoảng 45 phút nhưng những ngày hậu phẫu mới là nỗi ám ảnh.
Đây là vết mổ hở, bác sĩ đã biến đường hầm rò hậu môn thành một cái hào, cắt luôn một phần hậu môn, lại ở vị trí bất tiện nên mỗi khi vệ sinh vết mổ như một lần chịu cực hình mà nhỏ lớn chưa có cơn đau nào kinh khủng như vậy. Cực hình thứ hai là mỗi lần đi ngoài, đó là những cơn đau thấu trời.
Suốt hai tuần sau khi mổ, tôi chỉ ăn khẩu phần đủ để uống thuốc và hạn chế chất tạo phân. Ngoài ra trong một tuần đầu tiên việc đi lại, ngồi làm việc rất khó khăn. Vết thương liên tục rỉ dịch. Vết thương lành dần nhưng phải sau tám tuần tôi mới chia tay được những lần thay băng hằng ngày.
Tôi chỉ là trường hợp bệnh bình thường nhất, những người tôi biết kinh khủng hơn rất nhiều. Họ thường bị đến hai lỗ, gọi là rò hậu môn hình móng ngựa, thậm chí có người bị đến tám lỗ phải mổ đi mổ lại nhiều lần. Họ thường phát hiện khi những cơn đau hành hạ, có người phải nằm sấp và không thể ngủ được.
LÝ SƠN (Gò Vấp, TP.HCM)











































































































































PGS.TS NGUYỄN HOÀI NAM thực hiện
Nguồn: Tuổi Trẻ Online ngày 23/11/2014 truy cập từ http://tuoitre.vn/tin/song-khoe/20141123/noi-dau-khong-phai-ai-cung-hieu/675357.html. 

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh

Hãy làm bạn với những thực phẩm này để có một trái tim khỏe hơn nhé!


Sữa chua

Probiotics (chất làm lên men) trong sữa chua có ích lợi rất lớn cho nướu vì chúng sẽ “đánh đuổi” đi các vi khuẩn có hại trong miệng của chúng ta. Không chỉ thế, chất này còn giúp đỡ rất nhiều cho hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch trong cơ thể nữa.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 1
Nho khô

Chất antioxidants có trong nho khô giúp cho chúng ta đánh bại được các bệnh về viêm nhiễm nướu, một trong những lí do gây nên các bệnh về tim mạch. Vì vậy, các bác sĩ thường khuyên dùng loại thực phẩm này để phòng tránh một lúc cả hai loại bệnh cho cơ thể chúng ta.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 2
Thực phẩm làm từ gạo nguyên hạt

Các chất antioxidants, phytoestrogens và phytosterols có trong các loại bánh mì hay ngũ cốc nguyên hạt sẽ giúp cho cơ thể giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, nhất là căn bệnh tim mạch vành.

Đặc biệt, những thực phẩm có chứa nhiều chất xơ hoà tan như yến mạch, lúa, đậu, mướp tây, cà tím và các hoa quả họ quýt như cam sẽ làm giảm lượng cholesterol xấu trong cơ thể.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 3
Đậu

Đậu là một loại thực phẩm rất tốt trong việc hỗ trợ tim mạch, giúp thải các cholesterol ra ngoài cơ thể, tránh tình trạng cholesterol hoà tan vào trong ruột, ngăn chặn quá trình hình thành cholesterol.

Ngoài ra, đậu có chứa rất nhiều chất giúp bảo vệ tim mạch của như chất flavonoids, ngăn chặn các tiểu cầu bám vào tế bào máu, làm giảm nguy cơ bị đau tim hay đột quỵ.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 4
Cá

Các chứng minh cho thấy, ăn từ 2 đến 3 bữa cá mỗi tuần sẽ giúp nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành giảm đến 30%, hạn chế tình trạng nghẽn mạch máu. Chất Omega-3 trong cá ngừ, cá hồi hay một số loại cá khác còn làm giảm huyết áp và cho tim đập đều đặn hơn.

Các loại hạt

Các loại hạt chứa rất nhiều vitamin, chất khoáng, các chất béo không bão hoà dạng đơn thể và một ít chất béo bão hoà.

Các nhà nghiên cứu cho biết, một người ăn các loại hạt như quả óc chó, quả hồ đào, quả hạnh, quả phí, quả hồ trăn, hạt thông, đậu phộng… từ 2 đến 4 ngày trong tuần sẽ có ít khả năng bị các chứng bệnh về tim mạch hơn.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 5
Chocolate

Ăn một lượng chocolate đen (trên 70% cacao) vừa phải sẽ giảm tình trạng đông máu, giúp ích cho vòng tuần hoàn và hệ thống miễn dịch của cơ thể. Chất flavanols và epicatechin có trong chocolate giữ cho các mạch máu được hoạt động trôi chảy và tốt hơn. Các nguy cơ mắc bệnh về huyết áp, tiểu đường, thận hay chứng mất trí sẽ giảm hẳn đi.

Cà chua

Không chỉ chứa một nguồn lớn vitamin C, vitamin A, potassium và các chất xơ, cà chua còn chứa một hàm lượng lycopene rất cao, thúc đẩy các vitamin và các chất khoáng bảo vệ cơ thể khỏi các loại bệnh. Đồng thời, các nhà nghiên cứu cho biết, sự kết hợp của các chất dinh dưỡng có trong cà chua sẽ bảo vệ cơ thể khỏi nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 6
Táo

Táo là thực phẩm giúp giảm nguy cơ tử vong từ căn bệnh động mạch vành và các căn bệnh về tim mạch khác. Các nghiên cứu cho thấy, một người thường xuyên ăn táo sẽ có tỉ lệ mắc bệnh bột quỵ thấp hơn rất nhiều so với một người không ăn.

Các hợp chất antioxidant flavonoid có trong táo giúp cơ thể giảm đi lượng cholesterol xấu, loại bỏ các chất cặn đóng trong mạch máu và ngăn quá trình viêm nhiễm. Táo còn chứa pectin, một dạng chất xơ hoà tan giúp giảm cholesterol trong cơ thể, cung cấp một lượng lớn vitamin C và các chất antioxidant.

Quả mọng

Ăn nhiều các loại quả mọng bao gồm dâu, quả mâm xôi, quả việt quất, nho... sẽ mang đến các chất polyphenols, làm tăng số lượng nitric oxide có trong cơ thể, giúp cho các mạch máu khoẻ mạnh hơn và đồng thời cân bằng huyết áp.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 7
Lựu

Lựu có khả năng giảm bớt các chất cặn bã bị đóng vào thành mạch máu và đồng thời làm giảm huyết áp. So với các loại nước của quả việt quất, quả nam việt quất hay rượu đỏ thì nước của lựu chứa chất antioxidants (một chất ngăn ngừa bệnh tim mạch) nhiều nhất, có lợi ích rất lớn cho sức khoẻ của tim mạch.

Chuối

Một quả chuối thường chứa đến 422mg potassium, giúp duy trì các chức năng bình thường của tim, cân bằng số lượng muối và nước trong cơ thể. Potassium còn giúp thận thải ra sodium bị dư, cân bằng lại huyết áp trong cơ thể. Chất này còn rất quan trọng cho những người đang sử dụng thuốc lợi tiểu trong việc chữa trị các bệnh về tim, vì nó giúp “đánh đi” lượng sodium dư và sự bí nước trong cơ thể.

Trà xanh

Các nghiên cứu cho thấy một người uống 350ml trà mỗi ngày sẽ giảm khả năng mắc bệnh về tim mạch đến 50% so với những người không uống. Ngoài ra, trà còn giúp giảm khả năng mắc các loại bệnh về nướu. Catechins trong trà xanh cản trở sự viêm nhiễm của nướu, một loại bệnh hay dẫn đến các vấn đề về tim mạch.
Xếp hạng món ăn để có trái tim khỏe mạnh 8
Rượu vang

Các nhà khoa học cho biết, nếu như uống có chừng mực (dưới 500ml/tuần) rượu vang sẽ giúp tăng tượng cholesterol tốt cho cơ thể, giảm viêm nhiễm và giảm tắc nghẽn mạch máu, nguyên nhân gây ra chứng đột quỵ và đau tim.

Uống rượu vang đúng mức độ còn giúp tăng estrogen, có ích cho những phụ nữ trong trời kì mãn kinh vì việc giảm lượng estrogen trong cơ thể ở giai đoạn này sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh về tim mạch.   
 
Nguồn: Kênh 14.VN, truy cập ngày 28/05/2014 từ http://kenh14.vn/suc-khoe-gioi-tinh/xep-hang-mon-an-de-co-trai-tim-khoe-manh-20131012104534566.chn.

10 lời khuyên để có trái tim khỏe mạnh

Một trái tim khỏe mạnh bắt đầu bằng một cuộc sống lành mạnh. Chú ý đến sức khỏe tim mạch là bạn đã tự thưởng cho mình một món quà vô giá.

Để có một trái tim khỏe mạnh bạn không chỉ cần phải chú ý đến chế độ ăn uống, tập luyện mà còn phải quan tâm đến cảm xúc của mình nữa. Sau đây là 10 lời khuyên dành cho bạn:
 
1. Tập thể dục: Tập luyện đều đặn sẽ giúp bạn điều hòa khí huyết trong cơ thể hiệu quả hơn. Hãy cố gắng duy trì tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày.
 
2. Chế độ ăn: Bạn nên có một chế độ ăn uống cân bằng về mặt dinh dưỡng, giữa rau, hoa quả, thịt cá, đạm, ngũ cốc và sữa với hàm lượng chất béo thấp. Thức ăn có chứa axit béo omega-3, như cá hồi, sẽ giúp bạn chống lại nguy cơ bị bệnh về tim mạch và huyết áp. Hãy cố gắng tránh xa các loại thực phẩm có chứa nhiều chất béo bão hòa (saturated fat) và chất béo chuyển hóa (trans fat).
 
3. Giảm căng thẳng: Trạng thái căng thẳng, đặc biệt là đối với phụ nữ, là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch. Một số nghiên cứu khoa học cho thấy rằng phụ nữ thường phải chịu áp lực căng thẳng về chuyện gia đình nhiều hơn nam giới và đó chính là lý do họ thường có nguy cơ bị huyết áp cao. Nếu bạn cảm thấy căng thẳng thì hãy tìm ra nguyên nhân và kiềm chế nó. Hãy đảm bảo rằng mỗi ngày bạn dành một ít thời gian để thư giãn, chẳng hạn như đi dạo hay tập yoga.
 
4. Trọng lượng cơ thể: Hãy giữ trọng lượng cơ thể ở mức vừa phải. Nếu bạn bị quá cân thì tim của bạn phải làm việc nhiều hơn và làm gia tăng nguy cơ bị cao huyết áp, tăng lượng cholesterol và tiểu đường. Khi bạn giảm cân cũng cần phải chú ý đến sự cân đối giữa chiều cao và cân nặng.
 
5. Leo cầu thang: Ngoài các bài tập thể dục thông thường, để có một hệ thống tim mạch ổn định bạn cần phải chú ý đến sự vận động của toàn cơ thể. Một cách tập luyện đơn giản mà hiệu quả là leo cầu thang thay vì sử dụng cầu thang máy.
 
6. Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Bạn nên khám sức khỏe định kỳ để kiểm tra các thông số về hàm lượng cholesterol và huyết áp. Bạn nên đo huyết áp ít nhất 2 năm một lần và kiểm tra lượng cholesterol 5 năm một lần. Bạn cũng nên kiểm tra đường huyết vì đó cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch. Nếu gia đình bạn có tiền sử đái tháo thường hoặc béo phì thì bạn nên kiểm tra đường huyết 5 năm một lần.
 
7. Không hút thuốc: Hút thuốc là làm gia tăng gấp đôi nguy cơ bị bệnh tim. Bỏ thuốc lá sẽ giúp bạn kéo dài tuổi thọ. Hãy ăn hoa hướng dương để giảm cảm giác thèm nicotine.
 
8. Ăn cá: Các nghiên cứu chỉ ra rằng bạn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch bằng chế độ ăn có thêm cá 2 bữa/tuần. Chất béo Omega-3 không chỉ giúp giảm áp huyết mà còn làm giảm những triệu chứng bất thường về tim mạch. Nếu bạn không thích ăn cá thì bạn có thể dùng bổ xung dầu cá.
 
9. Phân biệt tác dụng tốt và xấu của cholesterol: Cơ thể bạn cần cholesterol để thực hiện nhiều chức năng, tuy nhiên đôi khi cholesterol lại có tác dụng ngoài ý muốn, ví dụ như cholesterol LDL gây xơ vữa mạch máu. Ngược lại, cholesterol HDL lại giúp xóa bỏ các loại cholesterol có hại cho cơ thể. Các thực phẩm giàu cholesterol HDL bao gồm lạc, dầu ô-liu và cá.
 
10. Uống điều độ: Không nên uống quá một món đồ giải khát mỗi ngày. Các nhà nghiên cứu khuyên rằng đồ uống giải khát có thể tốt cho sức khỏe nếu uống điều độ, nếu lạm dụng sẽ dẫn đến các bệnh về tim mạch./.

Trần Ngọc (Theo Thirdage.com)
 
Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM, truy cập ngày 28/05/2014 từ http://vov.vn/Suc-khoe/10-loi-khuyen-de-co-trai-tim-khoe-manh/183644.vov.

Tuổi thọ của trái tim

Tim là bộ phận quan trọng của cơ thể, có nhiệm vụ bơm máu đều đặn để theo các động mạch đem dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đến toàn bộ cơ thể. Khi tiến trình hoạt động của tim bị gián đoạn hoặc bị trục trặc, nhiều sự cố nghiêm trọng có thể sẽ xảy ra, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

Sự hình thành của trái tim

Trái tim được hình thành từ trong bụng mẹ, nghĩa là sau khi thụ tinh khoảng 13 ngày, hình dạng của trứng trong tử cung đã có rất nhiều sự thay đổi. Từ ngày thứ 16, phôi thai xuất hiện hai mạch máu tạo thành hai ống dẫn của tim. Mặc dù lúc này, hình dáng của tim thai vẫn chưa hình thành, nhưng nó cũng đã bắt đầu đập do những hoạt động co bóp và làm theo đúng chức năng của một quả tim thực thụ.

Đến cuối tháng thứ nhất, phôi thai dài thêm khoảng 1 cm, tim của thai nhi cũng đi vào quá trình hoàn thiện hơn. Ở tuần thai thứ 5 ( nếu tính từ thời điểm thụ thai thì thai nhi của bạn được 3 tuần tuổi), chiều dài của phôi thai chỉ khoảng 1,25mm. Phôi đã hình thành rất nhiều tế bào. Cuối tuần thứ 5 này, phôi bắt đầu có hình hài, ống thần kinh chạy dọc suốt chiều dài của phôi. Phần này về sau sẽ thành cột sống và não của bé.

Phần trên của ống thần kinh đã bắt đầu phẳng ra và sau này sẽ tạo nên phần mặt trước của não. Một hạt nhỏ ở giữa phôi sẽ sớm phát triển thành trái tim. Đến tuần thứ 7, tim lớn dần lên trong cơ thể thai nhi và bắt đầu phân chia thành hai buồng tim: trái và phải. Tim thai bắt đầu đập nhẹ và hoàn thiện nhanh chóng hơn khi thai nhi ở tuần thai thứ 11, khoảng tuần thứ 12, tim của bé gần như đã hoàn thiện. Ở tuần thai thứ 14, tim thai đập rõ ràng hơn. Đặc biệt ở tuần thai thứ 16, tim của thai nhi đã có thể bơm máu với lượng khoảng 24lít/ngày và số lượng này sẽ tiếp tục tăng cùng với sự phát triển của bé. Lúc này, tim đã hoàn chỉnh về mặt cấu tạo và đảm nhiệm chức năng của mình.

Từ các tuần thai tiếp theo cho đến lúc bé chào đời, tim của thai nhi tiếp tục lớn hơn về kích thước, khối lượng. Bình thường, tim thai đập từ 120 - 160 lần/phút, nhưng khi “bé” cựa quậy nhiều thì tim có thể đập nhanh đến 180 lần/phút, nhưng nó vẫn ở trạng thái bình thường. Theo khảo sát của các nhà khoa học thì tim của thai nhi mang giới tính nữ sẽ đập nhanh hơn tim của bé mang giới tính nam.

  Ăn nhiều chất béo không tan có thể làm tăng nguy cơ gây bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não.
Ăn nhiều chất béo không tan có thể làm tăng nguy cơ gây bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não.

Hãy lắng nghe tiếng nói của trái tim

Nhiều nhà nghiên cứu cho biết, vào tuổi trung niên, trái tim bắt đầu mắc bệnh do nhiều yếu tố. Tuy nhiên, ngày nay, nhiều nhà chuyên môn lại có những quan điểm mới thích hợp xu thế bởi con người ở bất kỳ độ tuổi nào cũng đều có thể mắc bệnh tim.

Những nguyên nhân chính thường thấy là do hút thuốc, bệnh đái tháo đường hoặc do di truyền từ bố mẹ, người thân ruột thịt, trong đó, việc hút thuốc lá nhiều và thường xuyên sẽ gây gia tăng bệnh đau tim ở mức độ trầm trọng.

Ngoài ra, nếu trong gia đình có bố mẹ hoặc người thân liên quan trực tiếp mắc bệnh tim, bạn cũng dễ có nguy cơ bị di truyền cơn đau tim, đặc biệt là phụ nữ. Theo các nhà nghiên cứu, phụ nữ rất dễ mắc các triệu chứng của cơn đau tim nên cần phải hết sức chú ý đến những tín hiệu đặc biệt phát ra trong cơ thể. Có thể không có cảm giác đau trong cổ họng hoặc đau 2 bên bả vai. Nhưng nếu bạn cảm thấy xuất hiện một luồng cảm giác lạ khác thường khiến bạn lo lắng..., xin hãy lập tức đến bác sĩ kiểm tra sức khỏe ngay lập tức. Ngoài ra, ngay cả khi bạn không mắc một trong các triệu chứng đau tim, bạn cũng phải năng đến bác sĩ để được thực hiện các xét nghiệm kiểm tra theo định kỳ, bởi cơ thể bạn có thể bị các cơn đau tim tấn công bất kỳ lúc nào mà không cần sự thông báo trước”.

Một trắc nghiệm về stress, một kiểm tra huyết áp, một xét nghiệm về cholesterol và bất kỳ một xét nghiệm nào khác để kiểm tra sức khỏe cũng đều hữu ích bởi chúng có thể giúp bác sĩ sớm phát hiện và chẩn đoán các bệnh tật trong cơ thể nếu có.

Và những nguy cơ

Từ lâu, các nhà chuyên môn đã thực hiện các nghiên cứu để tìm hiểu về các nguy cơ của bệnh tim mạch. Một trong các nguy cơ chủ yếu được nói tới nhiều nhất là do chế độ ăn uống và hoạt động của con người. Chế độ ăn có lượng chất béo không tan cao có thể làm tăng nguy cơ gây bệnh tim mạch và tai biến mạch máu não.

Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, chế độ ăn góp phần vào khoảng 31% các ca bệnh tim mạch vành và 11% các ca tai biến mạch máu não. Lười vận động cũng làm tăng nguy cơ bị tim mạch và tai biến mạch máu não lên 50%.

Lão hóa được coi là một yếu tố dẫn đến nguy cơ cao hơn với bệnh tim mạch. Trong khi người ta không thể chống lại được quy luật tự nhiên là già hóa, người ta vẫn có thể kiểm soát được các yếu tố có thể dẫn đến các bệnh về tim mạch, đó là duy trì mức cholesterol và triglycerid trong máu thấp. Thử máu là biện pháp phổ biến nhất hiện nay để kiểm soát mức cholesterol và triglycerid trong máu. Tuy nhiên, một trong các dấu hiệu tuổi già cũng có thể cho người ta biết trước được nguy cơ bị cholesterol cao - đó là các u mỡ thường xuất hiện ở quanh mi mắt của những người lớn tuổi.

Với các trường hợp chân tóc lùi ra sau, một dấu hiệu khác của tuổi già, các bác sĩ giải thích có thể có liên quan đến testosteron trong máu, một loại hormon. Thường lượng hormon này sẽ giảm khi tuổi già.

Mặc dù một số dấu hiệu của tuổi già có thể dự báo sớm nguy cơ bị bệnh tim mạch, tuy nhiên, ngày nay, cuộc sống khiến tuổi trẻ cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch gia tăng. Điều quan trọng là cần khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm những nguy cơ chứ không hẳn trái tim có tuổi mới mắc bệnh.

BS. Tuấn Anh

Nguồn: Sức khỏe và Đời sống, truy cập ngày 28/05/2014 từ http://suckhoedoisong.vn/bac-si-gia-dinh/tuoi-tho-cua-trai-tim-20140103234834832.htm.

Giải phãu: Tim

1. Mô tả được vị trí và hình thể ngoài tim.
2. Mô tả được hình thể trong và cấu tạo của tim.
3. Mô tả được các động mạch vành và tĩnh mạch của tim.

Tim là một khối cơ rỗng, tác dụng như một cái bơm vừa hút vừa đẩy máu đi; gồm hai nửa phải và trái. Mỗi nửa tim có hai buồng: một buồng nhận máu từ tĩnh mạch về gọi là tâm nhĩ, một buồng đẩy máu vào các động mạch gọi là tâm thất.

I. Vị trí

Tim nằm đè lên cơ hoành, ở giữa hai phổi, hơi lệch sang trái, trước thực quản và các thành phần khác của trung thất sau. Thể tích to bằng nắm tay, ở người lớn nặng khoảng 260-270 gam. Trục dọc đi từ sau ra trước, hướng chếch sang trái và xuống dưới, dài khoảng 12 cm. Bề ngang khoảng 8 cm.
Hình 1. Vị trí tim trong lồng ngực
1. TM chủ trên 2. ĐM chủ lên 3. Thân ĐM phổi 4. Tiểu nhĩ phải 5. Cán ức
6. Dây chằng ĐM 7. Màng phổi trung thất 8. Khoang màng ngoài tim

II. Hình thể ngoài

Tim có hình tháp 3 mặt, một đáy và một đỉnh. Đáy ở trên, quay ra sau, sang phải. Đỉnh ở trước, lệch trái.

1. Đáy tim

Đáy tim ứng với mặt sau hai tâm nhĩ. Ở giữa có rãnh gian nhĩ chạy dọc, ngăn cách tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái.
Hình 2. Tim (nhìn phía sau)
1. Cung ĐM chủ 2. TM chủ trên 3. ĐM phổi phải 4. Rãnh gian nhĩ 5. Rãnh tận cùng
6. TM chủ dưới 7. Xoang TM vành 8. TM tim nhỏ 9. TM tim giữa 10. TM sau của tâm thất trái
11. TM tim lớn 12. TM chếch của tâm nhĩ trái 13. Các TM phổi 14. Động mạch phổi trái
Bên phải là tâm nhĩ phải, liên quan với màng phổi phải và thần kinh hoành phải, phía trên có tĩnh mạch chủ trên và phía dưới có tĩnh mạch chủ dưới đổ vào cómotj rãnh nối bờ phải của hai tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới là rãnh tận cùng.

Bên trái rãnh gian nhĩ là tâm nhĩ trái, có bốn tĩnh mạch phổi đổ vào. Tâm nhĩ trái liên quan với thực quản ở phía sau, nên khi tâm nhĩ trái lớn sẽ đè vào thực quản gây khó nuốt.

2. Mặt ức sườn (còn gọi là mặt trước)

- Có rãnh vành chạy ngang phía trên, ngăn cách phần tâm nhĩ ở trên và tâm thất ở dưới.

- Phần tâm nhĩ bị thân động mạch phổi và động mạch chủ lên che lấp. Hai bên có hai tiểu nhĩ phải và trái.

- Phần tâm thất có rãnh gian thất trước chạy dọc từ sau ra trước, đến bên phải đỉnh tim, phân chia tâm thất phải và tâm thất trái. Tâm thất phải chiếm phần lớn diện tích mặt này.

- Mặt ức sườn nằm sau xương ức và các sụn sườn 3, 4, 5, 6 bên trái. Chiếu lên thành ngực, mặt ức sườn ứng với một tứ giác, mà :

- Góc trên phải và trên trái ở ngang mức khoang gian sườn II cạnh bờ phải và bờ trái xương ức.

- Góc dưới phải ở khoảng gian sườn V, cạnh bờ phải xương ức.

- Góc dưới trái ở khoảng gian sườn V, trên đường giữa xương đòn trái.
Hình 3. Mặt ức sườn của tim (mũi tên chỉ xoang ngang ngoại tâm mạc).
1. Dây chằng ĐM 2. ĐM phổi trái 3. Thân ĐM phổi 4. ĐM vành trái 5. Nhánh mũ
6. Nhánh gian thất trước 7. Khuyết đỉnh tim 8. ĐM vành phải 9. Tâm nhĩ phải
10. Màng ngoài tim 11. ĐM phổi phải

3. Mặt hoành (hay mặt dưới)

Là mặt của tim đè lên cơ hoành và qua cơ hoành liên quan với thùy trái của gan và đáy vë dạ dày.

Rãnh vành ở mặt ức sườn chạy tiếp xuống mặt hoành, chia tim ra hai phần: phần sau là tâm nhĩ, hẹp; phần trước là tâm thất, rộng hơn, có rãnh gian thất sau, chạy từ sau ra trước và nối với rãnh gian thất trước ở bên phải đỉnh tim, tạo nên khuyết đỉnh tim.

4. Mặt phổi (hay mặt trái)

Mặt phổi hẹp, liên quan với phổi và màng phổi trái, TK hoành trái.

5. Đỉnh tim (còn gọi là mỏm tim)

Đỉnh tim nằm chếch sang trái; ngay sau thành ngực tương ứng khoảng gian sườn V trên đường giữa xương đòn trái. Bên phải đỉnh tim là khuyết đỉnh tim, nơi hai rãnh gian thất gặp nhau.

III. Hình thể trong

1. Các vách tim

Các vách tim ngăn tim thành 4 buồng: hai tâm nhĩ và hai tâm thất.

1.1. Vách gian nhĩ

Vách gian nhĩ mỏng, chia đôi hai tâm nhĩ, ứng với rãnh gian nhĩ ở bên ngoài. Trong thời kỳ phôi thai, vách gian nhĩ có lỗ hở để máu đi từ tâm nhĩ phải sang tâm nhĩ trái. Sau khi sinh, lỗ này thường được đóng kín. Nếu không sẽ tồn tại một lỗ gọi là lỗ bầu dục, gây nên tật thông liên nhĩ.

1.2. Vách nhĩ thất

Là một màng mỏng ngăn cách tâm nhĩ phải và tâm thất trái, do buồng tâm thất trái rộng, vách gian thất dính lệch sang phải.

1.3. Vách gian thất

Vách gian thất ngăn cách giữa hai tâm thất, ứng với các rãnh gian thất ở bên ngoài. Có hai phần:

- Phần màng: ở trên, nhỏ, mỏng, dính lệch sang phải.

- Phần cơ: chiếm phần lớn vách, rất dày; thường cong lồi sang phải và buồng tâm thất trái lớn hơn buồng tâm thất phải. Khi vách gian thất (đặc biệt là phần màng) có lỗ hở, sẽ tạo nên tật thông liên thất.
Hình 4. Hình thể trong của tim
1. Tâm nhĩ trái 2. Van ĐM chủ 3. Lá sau van 2 lá 4. Lá trước van 2 lá
5. Thừng gân 6. Cơ nhú 7. Vách gian thất (phần cơ)
8. Vách gian thất (phần màng) 9. Tiểu nhĩ phải 10. Xoang ĐM chủ 11. ĐM chủ lên

2. Các tâm nhĩ

2.1. Đặc điểm chung

- Thành mỏng hơn các tâm thất.

- Nhận máu từ các TM đổ về.

- Mỗi tâm nhĩ thông với một tiểu nhĩ ở phía trên.

- Thông với tâm thất cùng bên qua lỗ nhĩ thất, có van đậy kín.

2.2. Tâm nhĩ phải

- Phía trên có lỗ TM chủ trên, không có van.

- Phía dưới là lỗ TM chủ dưới có van tĩnh mạch chủ dưới, là một nếp van nhỏ và không đậy kín.

- Thành trong: là mặt phải của vách gian nhĩ; có hố bầu dục và viền hố bầu dục là dấu vết của lỗ bầu dục trong phôi thai.
Hình 5. Thành trong tâm nhĩ nhĩ phải
1. TM chủ trên 2. Viền trên hố bầu dục 3. Hố bầu dục 4. TM chủ dưới
5. Lỗ đổ của xoang TM vành 6. Cơ lược 7. Tiểu nhĩ phải
- Thành ngoài: có một gờ nối bờ phải hai TM chủ trên và dưới, gọi là mào tận cùng, ứng với rãnh tận cùng bên ngoài. Bề mặt của thành ngoài tâm nhĩ phải có nhiều gờ cơ nổi lên, gọi là cơ lược.

- Phía trước có lỗ nhĩ thất phải, được đậy kín bởi van nhĩ thất phải hay van ba lá. Cạnh lỗ nhĩ thất là lỗ xoang (tĩnh mạch) vành, có van xoang (tĩnh mạch) vành đậy một phần. Phía trên lỗ nhĩ thất phải là lỗ thông với tiểu nhĩ phải

- Thành tâm nhĩ phải còn có nhiều lỗ đổ nhỏ của các tĩnh mạch tim nhỏ từ thành tim đổ trực tiếp vào.

2.3. Tâm nhĩ trái

- Thành trong: là mặt trái vách gian nhĩ, có van lỗ bầu dục (còn gọi là liềm vách) là dấu vết của lỗ bầu dục.

- Phía trên có lỗ thông với tiểu nhĩ trái.

- Phía trước thông với tâm thất trái qua lỗ nhĩ thất trái, có van hai lá đậy kín.

- Phía sau có bốn tĩnh mạch phổi đổ vào.

- Thành ngoài : nhẵn.

- Thành dưới : hẹp
Hình 6. Tâm nhĩ trái (tim được bổ dọc)
1. Tiểu nhĩ trái 2. Các TM phổi 3. Van lỗ bầu dục 4. Tâm thất trái
3. Các tâm thất

3.1. Đặc điểm

- Thành dày, sần sùi, có nhiều gờ cơ nổi lên.

- Có các động mạch lớn đi ra và có van đậy kín.

3.2. Tâm thất phải

Có hình tháp với ba mặt (trước, sau và trong), đáy ở sau, nơi có lỗ nhĩ thất phải thông giữa tâm nhĩ phải và tâm thất phải, được đậy kín bằng van nhĩ thất phải hay van ba lá (lá trước, lá sau và lá vách) ứng với ba thành của tâm thất.

Phía trước trên lỗ nhĩ thất phải có lỗ thân động mạch phổi, được đậy kín bởi van thân động mạch phổi gồm ba van nhỏ hình tổ chim đó là van bán nguyệt trước, van bán nguyệt phải và van bán nguyệt trái. Ở giữa bờ tự do của mỗi van bán nguyệt có cục van bán nguyệt, giúp cho van đóng kín hoàn toàn.

Phần tâm thất phải gần lỗ thân động mạch phổi hẹp lại tạo nên nón động mạch (hay phễu) và ngăn cách với các phần khác bởi một gờ cơ gọi là mào trên tâm thất.

Từ ba thành của tâm thất phải nhô lên ba cơ nhú: trước, sau và vách. Đầu tự do của các cơ nhú này có các thừng gân nối với các lá van tương ứng của van ba lá để chằng giữ các lá van này.

Có một gờ cơ chạy từ vách gian thất tới cơ nhú trước gọi là bè vách viền, trong bè có trụ phải của bó nhĩ thất.

3.3. Tâm thất trái

Là buồng tim có thể tích lớn nhất; thành dày nhất, khoảng 1 cm.

Hình nón dẹt : nền ở sau, đỉnh ở trước, có hai thành phải (trong) và trái (ngoài).

Nền có lỗ nhĩ thất trái được đậy kín bởi van hai lá, ứng với hai thành của tâm thất trái: lá trước (hay lá trong) là lá van lớn và lá sau (hay lá ngoài) là lá van nhỏ.

Lỗ động mạch chủ: ở bên phải lỗ nhĩ thất trái, có van ĐM chủ đậy kín. Về cấu tạo, van ĐM chủ tương tự như van thân động mạch phổi, nhưng với ba van bán nguyệt sau, phải và trái.

Ngoài nhiều gờ cơ, thành tâm thất trái có hai cơ nhú trước và sau cùng các thừng gân ở đầu để chằng giữ hai lá van nhĩ thất trái.

IV. Cấu tạo của tim

Tim được cấu tạo bởi ba lớp: ngoại tâm mạc, cơ tim và nội tâm mạc.

1. Ngoại tâm mạc (hay màng ngoài tim)

Ngoại tâm mạc là một túi kín. Gồm hai lớp: bao sợi bên ngoài, gọi là ngoại tâm mạc sợi và bao thanh mạc lót bên trong, gọi là ngoại tâm mạc thanh mạc.

1.1. Ngoại tâm mạc sợi

Dày, chắc; có các thớ sợi dính với các cơ quan lân cận như xương ức, cột sống, cơ hoành ..., trong đó có dây chằng ức ngoại tâm mạc.

1.2. Ngoại tâm mạc thanh mạc

Gồm hai lá: lá thành và lá tạng. Giữa hai lá là một khoang ảo, kín gọi là khoang ngoại tâm mạc.

-Lá thành: lót mặt trong ngoại tâm mạc sợi.

-Lá tạng: phủ lên bề mặt tim và một phần các mạch máu lớn ở đáy tim.

Lá thành ngoại tâm mạc thanh mạc đến các mạch máu lớn ở đáy tim thì quặt lại tạo nên lá tạng, bao bọc động mạch chủ lên và thân động mạch phổi thành một bao ở phía trước, tĩnh mạch chủ trên và các tĩnh mạch phổi thành một bao ở phía sau. Giữa hai bao là xoang ngang ngoại tâm mạc. Còn giữa hai tĩnh mạch phổi phải và trái là một túi cùng gọi là xoang chếch ngoại tâm mạc.

Hình 7. Xoang ngang và xoang chếch ngoại tâm mạc
1. ĐM chủ lên 2. TM chủ trên 3. Xoang ngang ngoại tâm mạc 4. Các TM phổi 5. TM chủ dưới
6. Màng phổi trung thất 7. Ngoại tâm mạc sợi 8. Xoang chếch ngoại tâm mạc
2. Cơ tim : thuộc lớp giữa, dày, bao gồm có hai loại :

2.1. Các sợi cơ co bóp

Các sợi cơ co bóp bám vào bốn vòng sợi quanh bốn lỗ lớn của tim (hai lỗ nhĩ thất và hai lỗ động mạch) và các tam giác sợi (phần sợi nằm giữa lỗ động mạch chủ và hai lỗ nhĩ thất).

Các sợi cơ co bóp được chia thành hai loại:

-Loại sợi riêng cho từng buồng tim (tâm nhĩ hoặc tâm thất).

-Loại sợi chung cho hai buồng tim (hai tâm nhĩ hoặc hai tâm thất).

2.2. Các sợi cơ kém biệt hoá

Tạo nên hệ thống dẫn truyền của tim, có nhiệm vụ duy trì sự co bóp tự động của tim. Hệ thống này gồm một số nút và bó dẫn truyền sau :

- Nút xoang nhĩ: nằm ở thành tâm nhĩ phải, trong phần đầu của rãnh tận cùng; đây là nút tạo nhịp.

- Nút nhĩ thất: ở thành tâm nhĩ phải, giữa lá trong van ba lá và xoang tĩnh mạch vành.

- Bó nhĩ thất: từ nút nhĩ thất, chạy ở mặt phải vách nhĩ thất, đến phần cơ của vách gian thất thì chia thành trụ phải và trụ trái.

- Trụ phải: theo bè vách viền chạy vào thành tâm thất phải, tận hết ở các cơ nhú.

- Trụ trái: vào tâm thất trái, cũng tận cùng ở các cơ nhú.

Trụ phải và trụ trái phân chia trong thành các tâm thất thành một mạng lưới, đến tận các vùng cơ tim.
Hình 8. Hệ thống dẫn truyền của tim
1. Nút xoang nhĩ 2. Bó nhĩ thất 3. Trụ phải 4. Các cơ nhú 5. Trụ trái 6. Nút nhĩ thất
3. Nội tâm mạc (hay màng trong tim)

Mỏng, láng, phủ và dính chặt lên toàn bộ mặt trong của các buồng tim và liên tiếp với nội mạc các mạch máu.

V. Mạch máu và thần kinh của tim

1. Động mạch

Tim được nuôi dưỡng bởi động mạch vành phải và động mạch vành trái. Hai động mạch thường nối nhau nhưng không nối với các động mạch lân cận.

1.1. Động mạch vành phải

Tách từ phần đầu động mạch chủ lên, trong xoang động mạch chủ, theo rãnh vành chạy xuống mặt hoành của tim, cho nhánh gian thất sau, rồi tiếp tục sang trái, có thể nối với nhánh mũ của động mạch vành trái. Động mạch vành phải cấp máu cho nửa phải của tim và một phần tâm thất trái.

Nhánh bên: các nhánh tâm nhĩ phải, các nhánh tâm thất phải, nhánh bờ phải, nhánh gian thất sau và các nhánh tâm thất trái.

1.2. Động mạch vành trái

Từ động mạch chủ qua khe giữa thân động mạch phổi và tiểu nhĩ trái ra trước, chia hai nhánh tận:

- Nhánh gian thất trước: đi trong rãnh gian thất trước đến khuyết đỉnh tim, nối với nhánh động mạch gian thất sau của động mạch vành phải.

- Nhánh mũ tim: theo rãnh vành xuống mặt hoành và có thể nối với động mạch vành phải.
Hình 9. Các van tim và các động mạch vành
1. Van thân động mạch phổi 2. ĐM vành phải 3. Van nhĩ thất phải 4. Xoang TM vành
5. Van nhĩ thất trái 6. Nhánh mũ của ĐM vành trái 7. Nhánh gian thất trước
2. Tĩnh mạch của tim
Hình10. Các tĩnh mạch của tim
A. Nhìn từ trước (mặt ức sườn) B. Nhìn từ dưới (mặt hoành)
1. TM chếch của tâm nhĩ trái 2. TM tim lớn 3. TM sau của tâm thất trái 4. Xoang TM vành
5. TM tim nhỏ 6. TM tim giữa 7.Các TM tim trước
- Xoang (tĩnh mạch) vành: nằm trong rãnh vành ở mặt hoành của tim, dài khoảng 2,5cm, đổ vào tâm nhĩ phải qua lỗ xoang vành. Có thể xem xoang vành như là đoạn cuối của tĩnh mạch tim lớn phình to, bắt đầu từ chỗ đổ của tĩnh mạch sau tâm thất trái hoặc tĩnh mạch chếch của tâm nhĩ trái. Đổ vào xoang vành có các tĩnh mạch sau:

+ Tĩnh mạch tim lớn: nằm trong rãnh gian thất trước cùng nhánh động mạch gian thất trước.

+ Tĩnh mạch tim giữa: đi trong rãnh gian thất sau cùng nhánh động mạch gian thất sau.

+ Tĩnh mạch sau của tâm thất trái và tĩnh mạch chếch của tâm nhĩ trái: đổ vào phần đầu xoang vành.

+ Tĩnh mạch tim nhỏ: đi cùng động mạch bờ phải, rồi ra sau và xuống rãnh vành, đổ vào phần cuối xoang vành.

- Các tĩnh mạch tim trước là nhiều nhánh nhỏ ở mặt trước tâm thất phải, đổ trực tiếp vào tâm nhĩ phải.

- Các tĩnh mạch tim cực nhỏ: từ các thành tim đổ trực tiếp vào các buồng tim.

2. Thần kinh của tim

Ngoài hệ thống dẫn truyền tự động, tim còn được chi phối bởi thần kinh tự chủ, gồm các sợi giao cảm từ các hạch cổ và hạch ngực trên, các sợi đối giao cảm từ TK lang thang (TK X)./.
 
ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
 
Nguồn: YHVN.VN, truy cập ngày 28/05/2014 từ http://yhvn.vn/tai-lieu/giai-phau-tim.
 
 
-