Hiển thị các bài đăng có nhãn Vàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Sự khác biệt giữa Vàng trắng và Bạch kim

Bản chất vàng trắng:
Đây là một hợp kim được pha trộn (theo nhiều công thức) cơ bản gồm vàng (vàng 4 số 9) + bạc + paladin ( hoặc nikel) + một số kim loại khác vì platin rất hiếm và đắt nên trên thế giới người ta đã dùng các kim loại có màu trắng như paladin (Pd) hoặc nikel (Ni) khi pha trộn với các kim loại khác ( như vàng) sẽ làm cho màu của vàng nhạt đi nhiều tạo thành một hợp kim có màu vàng rất nhạt (gần như trắng). Muốn trắng hơn, người ta phải xi mạ thêm bên ngoài một thứ kim loại khác ( cũng nằm trong nhóm platin) đó là rhodi (Rd) để có màu sắc trắng sáng rất đẹp không thua gì plati mà giá thành thấp hơn nhiều.
Hiện nay giá vàng trắng cao hơn so với vàng 18K vì các kim loại dùng để pha trộn như Pd giá cũng khá cao, dù tỉ lệ pha rất ít. Các nhà sản xuất nữ trang thường đóng dấu có chữ cái “P” hoặc “Pt” cho nữ trang plati tức bạch kim và đóng chữ cái “WG” (White gold) cho nữ trang làm bằng vàng trắng. Ngoài ra còn có các loại vàng khác như green gold ( vàng xanh), yellow gold ( vàng vàng), red gold (vàng đỏ) . . .
Người ta lựa chọn những kim loại quý với tỷ lệ thích hợp để nấu chảy đều cùng với vàng, sau khi kết tinh thu được một hợp chất có màu trắng , sản phẩm này được gọi là vàng trắng. Nói một cách khác vàng trắng là một hợp kim đa nguyên tố không phải là một hợp chất trong bảng tuần hoàn. Thành phần của nó gồm có vàng và các loại kim loại quý hiếm như nikel, plaid, platin… Do tính chất đặc biệt của hợp kim nên màu vàng của vàng đã biến mất trong vàng trắng. Như vậy giá trị của vàng trắng được đảm bảo như bằng hàm lượng vàng có trong nó, cách tính giá trị của vàng trắng như cách tính giá trị của các loại vàng tây thường (vàng hợp kim, vàng màu) trên thị trường. Trong kỹ nghệ chế tác trang sức, vàng trắng được coi là một phát minh có giá trị cao về kinh tế và mỹ thuật; bởi nó có thể thay thế gần như hoàn toàn platin là kim loại quý hiếm đắt hơn vàng và rất khó chế tác ra đồ trang sức.
6557c


Vàng trắng có màu trắng tinh khiết, ánh kim lấp lánh cùng đặc tính cứng, dẻo khiến vàng trắng phản quang, đàn hồi tốt, chịu được ma sát khi đeo dùng; vì vậy ít bị hao mòn, biến dạng, gãy đứt, đặc biệt có khả năng giữ chắc các loại đá quý, kim cương trên đồ trang sức. Vàng trắng mới được phổ cập tại Việt Nam khoảng năm 1997 và nhanh chóng được người tiêu dùng ưa thích bởi tính hữu dụng, kinh tế và vẻ đẹp thuần khiết cao quý của nó. Hiện nay trên thị trường thịnh hành hai loại vàng trắng như vàng 14k (58,3%), 18K (75%). Nhưng phổ biến là vàng trắng 14K. Vàng trắng ở thị trường Việt Nam hiện nay được pha chế chủ yếu bằng vàng 24K (99,9%) với hợp kim (alloy) danh từ chuyên ngành gọi là hột (hợp kim có thành phần kim loại quý) của nước ngoài phổ biến là của Đức, Ý. Thông thường vàng 14K có màu trắng đẹp hơn vàng 18K (bởi hàm lượng vàng trong vàng trắng càng cao thì độ trắng càng giảm). Nhưng hiện nay do áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, công ty vàng bạc đá quý Bảo Tín Minh Châu đã chế tác thành công loại vàng 70%, 75% có màu trắng bóng, nguyên bản không cần xi mạ có màu sắc và cơ tính tương đương platin (Pt900), mặc dù ở độ tuổi này vàng rất khó trắng. Do chế tác tại Việt Nam và sử dụng hợp kim (alloy) ngoại nhập nên chất lượng vàng trắng như của nước ngoài nhưng giá bán lại thấp hơn vàng nước ngoài rất nhiều. Trang sức vàng trắng sau khi chế tác để nguyên bản có ánh kim lấp lánh , màu trắng sáng có ánh vàng rất nhẹ của vàng gốc tạo cho trang sức có hồn và vẻ đẹp riêng biệt: thanh khiết, sâu lắng khác hẳn với màu trắng sáng của inox, trắng lạnh của đồ mạ crom, trắng nhạt của bạc. Trên thế giới quan niệm màu sắc đặc trưng của vàng trắng sẽ tôn tạo tính cách của người đeo dùng nó.
Ngoài ra có thể có trang sức trắng hơn thì dùng công nghệ xi điện giải hiện đại. Lớp xi này bằng kim loại quý rhodi có giá trị gấp 2 lần vàng, sáng trắng, bóng mịn phủ dày lên bề mặt trang sức có thể dùng hàng năm, khi lớp xi mòn ta có thể xi lại đẹp như mới trong thời gian khoảng một giờ với chi phí rất ít.
Bạch kim là kim loại có độ quý, hiếm và khó chế tác cao hơn vàng nhiều lần, do đó trang sức bằng bạch kim cũng đắt hơn vàng rất nhiều.
bạch kim
Phân biệt bạch kim với vàng trắng:
Vàng trắng là hợp kim của vàng và các kim loại quý khác, trong đó vàng là thành phần chính. Vàng trắng có màu trắng ngà nên khi thành đồ trang sức sẽ được phủ lên bề mặt một lớp kim loại rhodi – quý hơn vàng nên có màu trắng sáng rực rỡ. Do vậy, vàng trắng dùng một thời gian thường bị ngả vàng. Để nữ trang vàng trắng luôn đẹp, tốt nhất khoảng 2 tháng khách hàng mang tới cửa hàng xi lại lớp rhodi và kiểm tra lại các ổ hột. Bạch kim còn gọi là platin là kim loại quý có giá trị cao gấp 1,7 – 2 lần so với vàng 9999. Bạch kim có màu trắng, có độ bóng và sáng cao hơn vàng trắng. Bạch kim có tỷ trọng cao hơn vàng do đó nữ trang làm bằng bạch kim nặng hơn rất nhiều so với nữ trang vàng có cùng kiểu dáng bằng bạch kim.
Vàng trắng và bạch kim – sự khác biệt từ bản chất kim loại
Vàng trắng thực chất là vàng nguyên chất được trộn với một số kim loại khác để tạo ra màu trắng ngà và khi chế tác được phủ lên bề mặt một lớp kim loại rhodi (cái này còn quý hơn vàng) để có thể tạo ra màu trắng sáng. Vì vậy trong quá trình sử dụng vàng trắng dễ bị ngả màu vàng ố và phải được xi lại một lớp rhodi, việc này khoảng 1 đến 2 năm một lần. Bạch kim thì khác, bản chất của nó đã là màu trắng có pha một chút xám. Khi sử dụng lâu ngày có thể tỉ lệ màu xám sẽ tăng dần, nhưng rất dễ xử lý chỉ cần mang đánh bóng thì sẽ có lại màu như ban đầu. Cũng vì sự khác biệt về bản chất kim loại nên trọng lượng của chúng cũng khác nhau rõ rệt. Do có tỉ trọng cao hơn khoảng 60% so với vàng trắng nên đồ trang sức bằng bạch kim nặng hơn bằng vàng trắng rất nhiều. Cũng vì có tỉ trọng lớn nên để gia công một món đồ trang sức bằng bạch kim phải tốn khá nhiều công sức, cũng là lý do tại sao giá đồ trang sức bằng bạch kim lại đắt hơn vàng trắng nhiều lần.
Vàng trắng và bạch kim – sự khác biệt trong cách sử dụng
Sự bào mòn trong quá trình sử dụng ảnh hưởng đến vàng trắng và bạch kim bằng hai cách khác nhau. Trong quá trình sử dụng một lượng nhỏ vàng hay rhodi sẽ bị bào mòn ở vàng trắng và cần phải xi lại lớp này trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng đối với bạch kim thì lớp kim loại chỉ đơn giản là bị ố màu và chỉ cần đánh bóng lại. Tuy nhiên bạn cũng cần phải biết rằng bạch kim có tốc độ ố màu trong quá trình sử dụng nhanh hơn vàng trắng nhiều lần, nhưng lại dễ xử lý nên có thể có được lớp màu sáng trắng tự nhiên lâu hơn vàng trắng. Vàng trắng không phải 100% vàng tự nhiên (màu vàng), vì vậy nên nó phải được pha trộn với một số kim loại khác để tạo nên màu trắng sáng. Do đó trong quá trình sử dụng nó có thể gây ra một số kích ứng da đối với những người nhạy cảm với dị ứng kim loại. Mặt khác bạch kim thì gần như hoàn toàn là platin nguyên chất, nên nó khó có khả năng gây kích ứng da.
Theo Tạp chí Hóa học & Ứng dụng.

Kim Tuyền

Nguồn: Giá vàng.NET ngày  21/12/2015 truy cập từ http://www.giavang.net/su-khac-biet-giua-vang-trang-va-bach-kim/.

VÀNG TRẮNG, VÀNG TA, VÀNG TÂY LÀ GÌ?

Vàng trắng là gì?
Người ta lựa chọn những kim loại quý với tỷ lệ thích hợp để nấu chảy đến cùng với vàng, sau khi kết tinh thu được một hợp kim có màu trắng, sản phẩm này được gọi là vàng trắng. Hoặc nói một cách khác vàng trắng là hợp chất đa nguyên tố không phải là một đơn chất trong bảng tuần hoàn MENDELEEP. Thành phần của nó gồm có vàng và các loại kim loại quý hiếm như Niken, Pladi, Platin..vv..Do tính chất đặc biệt của hợp kim nên màu vàng của vàng đã biến mất trong vàng trắng.
Như vậy giá trị của vàng trắng được bảo đảm bằng hàm lượng vàng có trong nó, cách tính giá trị của vàng trắng như cách tính giá trị của các loại vàng tây thường (vàng hợp kim, vàng mẩu) trên thị trường .
Trong kỹ nghệ chế tác trang sức, vàng trắng được coi là một phát minh có giá trị cao về kinh tế và mỹ thuật; bởi nó có thể thay thế gần như hoàn toàn Platin là kim loại quý hiếm đắt hơn vàng và rất khó chế tác ra đồ trang sức. Vì Platin có nhiệt độ nóng chảy quá cao cùng các đặc tính khác (Platin có nhiệt độ nóng chảy tới 1700ºC còn vàng trắng có nhiệt độ nóng chảy trên dưới 1000ºC). Nên giá thành từ nguyên liệu và công nghệ chế tác trang sức bằng Platin rất cao, gấp 1,5 đến 2 lần so với vàng trắng. Trong khi đó vàng trắng đã đạt độ bền lý, hóa có ánh kim rực rỡ, với màu trắng tương tự như Platin mà giá thành chỉ tương đương với vàng tây thường.
Vàng trắng có màu trắng tinh khiết, ánh kim lấp lánh cùng vói đặc tính cứng, dẻo khiến vàng trắng phản quang đàn hồi tốt, chịu đựng được ma sát khi đeo dung; vì vậy ít bị hao mòn biến dạng, gẫy đứt, đặc biệt có khả năng giữ chắc các loại đá quý, kim cương trên đồ trang sức.

1893a
Vàng trắng mới được phổ cập tại Việt Nam khoảng năm 1997 và nhanh chóng được người tiêu dung ưa thích bởi tính hữu dụng, kinh tế và vẻ đẹp thuần khiết cao quý của nó. Hiện nay trên thị trường thịnh hành 2 loại vàng trắng như vàng 14k(58,3%), 18k(75%). Nhưng phổ biến là vàng trắng 14k.
Vàng trắng ở thị trường Việt nam hiện nay đã được pha chế chủ yếu bằng vàng 24k(99,9%), với hợp kim(Alloy) danh từ chuyên ngành gọi là hội (hợp kim có thành phần kim loại quý) của nước ngoài phổ biến là của Đức, Ý.
Thông thường vàng trắng 14k có mầu trắng đẹp hơn vàng 18k (bởi hàm lượng vàng trong vàng trắng càng cao thì độ trắng càng giảm). Nhưng hiện nay do áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, các công ty vàng bạc đá quý đã chế tác thành công loại vàng 70%, 75% có mầu trắng bóng, nguyên bản không cần xi mạ có màu sắc và cơ tính tương đương Platin(PT900). Mặc dù ở độ tuổi này vàng rất khó trắng.
Trang sức bằng vàng trắng sau khi chế tác để nguyên bản có có ánh kim lấp lánh , màu trắng sáng có ánh vàng rất nhẹ của vàng gốc tạo cho trang sức có hồn và một vẻ đẹp riêng biệt ;thanh khiết, sâu lắng khác hẳn với màu trắng xám của Inox, trắng lạnh của đồ mạ crom, trắng nhạt của bạc. Trên thế giới quan niệm màu sắc đặc trưng của vàng trắng sẽ tôn tạo tính cách của người đeo dùng nó.

Vàng ta là gì?
Theo quy ước chung trên thế giới, có hai loại vàng chính thống được chấp nhận là vàng 18K và vàng 24K. Karat – ký hiệu K, đơn vị đo độ tinh khiết của vàng. 1K = 1/24 độ tinh khiết.
Vàng 24K chứa 99,99% vàng ròng, còn vàng 18K có hàm lượng vàng trong sản phẩm tương đương 75%. Phụ liệu tham gia vào quá trình điều chế từ vàng 24K thành vàng 22K, 18K, 14K… gọi là “hội” (Hợp kim – Alloy) như đồng, bạc…Ví dụ vàng 75% thì trong đó đồng và bạc hoặc một “hội” khác chiếm 25%.
Vàng 24K còn gọi là vàng ròng, vàng nguyên chất hay vàng hàm lượng 99,99%. Vàng 24K có màu vàng ánh kim đậm nhất nhưng khá mềm nên nữ trang làm bằng vàng 24K không được đa dạng vì khó gắn đá quý và đánh bóng. Do đó hầu hết trang sức được làm bằng vàng thấp tuổi với nhiều màu sắc khác nhau, có độ cứng cao hơn, dễ gắn hột và đánh bóng. Tùy theo nhu cầu khác nhau của đồ trang sức mà người thợ kim hoàn sẽ pha các kim loại khác nhau vào với vàng. Nếu bạn cần mầu trắng sáng thì họ sẽ pha Nickel(Ni) hoặc Palladium (Pd), nếu cần ngả về đỏ hoặc hồng thì pha với Đồng (Cu) trong khi Bạc (Ag) sẽ cho hợp kim vàng có màu lục.
5-6
Dân Việt Nam ta sử dụng nhiều loại vàng trong nữ trang. Trên thị trường, các tên gọi hàm lượng thường theo thói quen, nên hơi lẫn lộn giữa các cách, lúc thì gọi theo tuổi 10, hoặc theo karat, khi thì gọi theo các số 9, rồi có lúc lại là phần trăm. Loại vàng nữ trang phổ biến nhất là vàng 18K (75%) và 14K (58,3%), ngoài ra còn có nữ trang 4 số (24K hay 99,99%), 2 số (23,7K hay 99%), 68% (16,3K), 9K (37,4%)… Hai loại màu dùng nhiều là vàng và trắng. Riêng màu vàng thì có thể có nhiều loại sắc như vàng chanh, vàng hồng, vàng đỏ… Vàng màu trắng dùng rất nhiều sau này, nhất là trong các nữ trang gắn kim cương hoặc hột Mỹ. Có một số người gọi nhầm vàng trắng là bạch kim. Thường thì nữ trang bạch kim sẽ cao giá hơn vàng trắng.

Vàng tây là gì?
Vàng tây là hợp kim giữa vàng và một số kim loại “mằu” khác. Tùy theo hàm lượng vàng mà ta sẽ có nhiều loại vàng tây ví dụ như vàng 9k, vàng 10k, …vàng 14k, vàng 18k…
Theo quy định quốc tế thì hàm lượng vàng 99.99% (gần 100%) gọi là vàng 24k. Vậy thì hàm lượng vàng của các loại vàng khác sẽ giảm theo số “k” tương ứng. Cách tính: lấy số “k” chia cho 24. sẽ bằng hàm lượng vàng.Và đó củng chính là “tuổi” vàng.

Ví dụ: Muốn biết hàm lượng vàng trong vàng 18k là bao nhiêu thì ta lấy 18 chia cho 24 bằng 0.75. Như vậy trông vàng 18k chỉ có 75% là vàng. Còn lại 25% la hợp kim khác, người trông nghề gọi là “hội”.
Tương tự ta sẽ có bảng hàm lượng vàng của các loại vàng tây thông dụng:
Lưu ý: Tùy theo quốc gia, lảnh thổ ,địa phương …tập quán mà người ta dùng các loại vàng tây khác nhau, thậm chí còn “zu zi” hàm lượng vàng trông một loại vàng.
Người Mỹ thường xài vàng 14k trong khi đó người Canada lại thích vàng 21k. Còn người Pháp thì chơi 18k. Người Ý thì “quá bèo” chỉ xài vàng 9k và 10k. Việt nam ta thì 24k và 18k. đạc biệt vàng 18k ở Việt nam có 3 loại: Loại 75%, Loại 70% va loại 68%. Tùy theo khách hàng yêu cầu.
cách làm sáng vàng tây (5)
Thông thường chúng ta còn hay gọi vàng dùng trong trang sức là “vàng tây”. Vàng nguyên chất khá mềm nên rất khó để sử dụng trong việc tạo ra các đồ trang sức bền, sáng bóng và gắn đá quý. Do vậy người ta thường hay sử dụng vàng 22K hoặc 18K để làm vàng trang sức. Tùy theo nhu cầu khác nhau của đồ trang sức mà người thợ kim hoàn sẽ pha các kim loại khác nhau vào với vàng. Nếu bạn cần mầu trắng sáng thì họ sẽ pha Nickel(Ni) hoặc Palladium (Pd), nếu cần ngả về đỏ hoặc hồng thì pha với Đồng (Cu) trong khi Bạc (Ag) sẽ cho hợp kim vàng có màu lục.
Theo BTMC.
Kim Tuyền

Nguồn: Giá Vàng.NET ngày 21/12/2015 truy cập từ http://www.giavang.net/vang-trang-vang-ta-vang-tay-la-gi/.

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013

“Đại bại” của vàng năm 2013

Đã diễn ra một cuộc tháo chạy trên diện rộng của giới đầu tư quốc tế khỏi thị trường vàng trong năm nay...

2731175926

"Vàng không còn được chuộng vì ai cũng cảm thấy sự an toàn lúc này không còn cần thiết trên thị trường nữa" - Ảnh: Market Watch.

Năm 2013 có thể được xem như một năm thất bại lớn đối với vàng trên nhiều phương diện. Không những giá vàng giảm mạnh nhất trong hơn 3 thập kỷ, kim loại quý này còn không được các nhà đầu tư xem trọng như những năm trước.

Chốt năm 2012, giá vàng giao ngay tại thị trường New York dừng ở mức 1.676,2 USD/oz. Tuy nhiên, đóng cửa phiên giao dịch ngày 24/12/2013, giá vàng giao ngay tại New York chỉ còn 1.205,3 USD/oz. Như vậy, từ đầu năm đến thời điểm này, giá vàng đã giảm 470,9 USD/oz, tương đương mức giảm 28%.

Theo ông Kevin DeMeritt, Chủ tịch công ty kim loại quý Lear Capital có trụ sở ở Los Angeles, đây là mức giảm giá trong năm mạnh nhất của vàng kể từ năm 1981 đến nay. Còn theo dữ liệu của FactSet, năm 2013 là năm giảm giá đầu tiên của vàng kể từ năm 2000.

Năm 2012, giá vàng tăng được 7%. Mức giá kỷ lục mọi thời đại của vàng là mức hơn 1.920 USD/oz thiết lập vào tháng 9/2011. Nếu so với đỉnh giá này, giá vàng hiện đã giảm hơn 37%.

Đà giảm chóng mặt của giá vàng quốc tế trong năm nay là kết quả của nỗi lo về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ sớm thu hẹp quy mô của gói nới lỏng định lượng QE3 trong bối cảnh kinh tế Mỹ phát đi những tín hiệu phục hồi khả quan. Hồi tháng 6, giá vàng giao ngay đã rớt xuống mức thấp nhất trong hơn 3 năm về khoảng 1.180 USD/oz do những lo ngại này. Trước đó, trong thời gian từ tháng 12/2008-6/2011, giá vàng đã tăng 70% khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) bơm 2 nghìn tỷ USD vào hệ thống tài chính thông qua hai chương trình QE1 và QE2.

Và cuối cùng, sau nhiều đồn đoán, FED đã cắt giảm gói QE3 vào ngày 18/12 vừa qua. Sau khi quyết định của FED được công bố, giá vàng tiếp tục giảm, tuột khỏi mốc 1.200 USD/oz trước khi chật vật thiết lập lại ngưỡng hỗ trợ kỹ thuật quan trọng này vài ngày sau đó. Một số nhà phân tích bình luận, dù đã được tiên liệu từ trước, quyết định của FED giống như một cú “knock-out” đối với giá vàng.

Các yếu tố bất lợi khác đối với giá vàng như lạm phát toàn cầu thấp, sự tăng điểm liên tục lên các ngưỡng kỷ lục của thị trường chứng khoán Mỹ hay đồng USD mạnh lên cũng “chung tay” đẩy giá vàng lao dốc không điểm dừng. Mấy năm trước, khủng hoảng tài chính rồi khủng hoảng nợ công thúc đẩy giới đầu tư mua vàng để tìm kiếm sự an toàn. Năm nay, khủng hoảng đã lắng xuống và người ta nói nhiều tới câu chuyện phục hồi tăng trưởng, thì địa vị “vịnh tránh bão” của vàng không còn được phát huy mạnh nữa.

Đã diễn ra một cuộc tháo chạy trên diện rộng của giới đầu tư quốc tế khỏi thị trường vàng trong năm nay. Số liệu từ công ty nghiên cứu EPFR Global cho thấy, các nhà đầu tư đã rút 38,8 tỷ USD khỏi các quỹ đầu tư vào vàng trong năm nay - mức rút vốn mạnh nhất kể từ khi số liệu này bắt đầu được theo dõi vào năm 2000.

Trong đó, quỹ tín thác (ETF) đầu tư vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust đã bán ròng trên 500 tấn vàng, hiện chỉ còn nắm chưa đầy 806 tấn vàng. Dường như, sau mỗi phiên bán ròng vàng của SPDR Gold Trust, cái nhìn của thị trường về triển vọng của giá vàng lại thêm phần bi quan. Trong suốt mấy tháng trở lại đây, hiếm hoi lắm mới có phiên SPDR mua ròng vàng, còn lại chỉ là bán ròng liên tiếp.

“Vàng có lẽ đã trở thành tài sản bán khống dễ nhất mọi thời đại. Vàng không còn được chuộng vì ai cũng cảm thấy sự an toàn lúc này không còn cần thiết trên thị trường nữa. Năm nay, mọi người đều muốn rót tiền vào những tài sản rủi ro hơn”, ông Uri Landesman, Chủ tịch quỹ đầu cơ Platinum Partners có tài sản 1,3 tỷ USD, phát biểu khi trả lời phỏng vấn hãng tin tài chính Bloomberg.

Trái ngược với sự giảm giá của vàng, chỉ số MSCI All-Country World Index, một thước đo của thị trường chứng khoán toàn cầu, đã tăng 19% trong năm nay. Chỉ số Bloomberg Dollar Index, thước đo sức mạnh đồng USD so với một rổ gồm 10 đồng tiền mạnh khác, tăng 3,4% - theo số liệu của Bloomberg.

Không chỉ “thất sủng” trong các danh mục đầu tư, vàng còn bị một số quốc gia “siết” trong năm nay. Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất thắt chặt quản lý thị trường vàng trong năm 2013, mà ngay cả Ấn Độ, nước tiêu thụ vàng hàng đầu thế giới, cũng áp dụng những biện pháp mạnh tay nhằm hạn chế nhập khẩu vàng.

Các nhà chức trách Ấn Độ đã xem việc nhập khẩu vàng ồ ạt để đáp ứng nhu cầu của người dân là một trong những nguyên nhân hàng đầu đẩy thâm hụt cán cân vãng lai của nước này tăng vọt, khiến đồng Rupee lao dốc. Trong số những biện pháp mà Ấn Độ áp dụng để hạn chế nhập vàng, phải kể tới mức thuế nhập khẩu vàng bị đẩy lên 10% hay một tỷ lệ vàng nhập khẩu phải được tái xuất dưới dạng nữ trang.

Những chính sách “khắc nghiệt” này đã khiến lượng vàng nhập khẩu vàng vào Ấn giảm mạnh trong năm nay, và Ấn Độ có khả năng để mất ngôi vị nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới vào tay Trung Quốc sau nhiều năm nắm giữ vị trí này. Theo một báo cáo mới đây của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), Trung Quốc đã nhập khẩu 798 tấn vàng trong năm nay, so với mức 715 tấn của Ấn Độ. WGC hạ dự báo nhập khẩu vàng của Ấn cả năm nay còn 900 tấn, so với mức dự báo 1.000 tấn dành cho Trung Quốc.

Giảm theo giá vàng thế giới, giá vàng trong nước tính đến ngày 25/12 đã giảm 11,6 triệu đồng/lượng so với chốt năm ngoái, tương đương mức giảm khoảng 25%. Giá vàng SJC bán ra hiện đang ở mức khoảng 35,1 triệu đồng/lượng, gần thấp nhất trong hơn 3 năm trở lại đây. Năm 2012, giá vàng SJC tăng hơn 8%.

Tính từ đầu năm, chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam tăng 27%. Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 12 tháng tại Ngân hàng Vietcombank hiện ở mức 7,3%.

Tuy mức giảm giá của vàng trong nước từ đầu năm đến nay phản ánh gần hết mức giảm của giá vàng thế giới, so với diễn biến của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước có diễn biến “êm” hơn nhiều. Điều này thể hiện qua việc giá vàng SJC từ đầu năm tăng và giảm đều chậm hơn giá vàng thế giới nên không gây ra những đợt “sóng” lớn trên thị trường.

Ngoài việc giá vàng liên tục giảm, thì việc không xảy ra những “cú sốc” giá vàng cũng được xem là một nguyên nhân khiến người dân giảm bớt sự chú ý với kênh đầu tư này. Cảnh tượng người dân xếp hàng mua-bán vàng của những năm trước hầu như không còn tái diễn trong năm nay. Bên cạnh đó, giá vàng ổn định còn góp phần giúp tỷ giá USD/VND năm nay ổn định hơn những năm trước.

Năm 2013 cũng là năm mà Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực thi các chính sách tăng cường quản lý thị trường vàng. Từ ngày 28/3, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu tổ chức đấu thầu vàng miếng, thực hiện chức năng là nguồn cung vàng mới duy nhất trên thị trường. Đến nay, sau 75 phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước đã bán ra thị trường 67,5 tấn vàng miếng SJC.

Nhờ nguồn cung vàng đấu thầu, các tổ chức tín dụng đã gom đủ vàng cho việc tất toán trạng thái huy động vàng và dừng huy động vốn vàng theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Theo số liệu chính thức, có khoảng 30 tấn vàng mà Ngân hàng Nhà nước bán ra được dùng cho việc tất toán của các ngân hàng thương mại, còn lại được đưa ra thị trường.

Tuy vậy, đến nay, giá vàng trong nước vẫn đang cao hơn giá vàng thế giới quy đổi khoảng 4-4,5 triệu đồng/lượng. Bằng thời điểm này năm ngoái, giá vàng SJC bán lẻ cũng chênh giá vàng thế giới khoảng 4-5 triệu đồng/lượng.     


AN HUY
             
Nguồn: VNEconomy ngày 25/12/2013 truy cập từ http://vneconomy.vn/20131225045217963P0C6/2013-nam-dai-bai-cua-vang.htm.

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Vì sao giới đầu tư “quay lưng” với vàng?

Vàng đang giảm bớt độ lấp lánh trong mắt các nhà đầu tư thế giới, bao gồm cả các ngân hàng trung ương...

Vì sao giới đầu tư “quay lưng” với vàng?
Vàng, một tài sản không sinh lợi tức và có thể mất chi phí nắm giữ, cũng đang trở nên kém hấp dẫn hơn nếu so sánh với những kênh đầu tư khác.

Trào lưu đổ xô mua vàng của giới đầu tư toàn cầu đẩy giá vàng tăng liên tục trong suốt 12 năm qua đang đi vào hồi kết. Ngay cả các ngân hàng trung ương, nhóm chuyển từ bán ròng sang mua ròng vàng trong những năm gần đây, cũng đang có dấu hiệu chán vàng.Tờ Wall Street Journal dẫn số liệu mới nhất từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết, trong tháng 9 vừa qua, Ngân hàng Trung ương Nga đã có lần đầu tiên bán ròng vàng trong vòng 1 năm trở lại đây. Kể từ đầu năm 2010, Nga chiếm khoảng 30% khối lượng vàng mua vào của các ngân hàng trung ương trên toàn.

Cũng giống như các quốc gia mới nổi khác, Nga mua vàng để đa dạng hóa dự trữ ngoại hối. Việc nước Nga và các quốc gia khác giảm hứng thú với vàng sẽ là một nguồn sức ép giảm giá nữa đối với vàng, sau khi giá kim loại quý này đã hạ 19% từ đầu năm tới nay. Lần gần đây nhất giá vàng giảm trong cả năm là vào năm 2000.

Sức mạnh tăng giá của vàng ban đầu được đẩy lên cao khi các sản phẩm tài chính mới được tung ra vào giữa thập niên 2000, cho phép các nhà đầu tư thuộc mọi dạng tiếp cận dễ dàng hơn với vàng. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá vàng tăng tốc khi giới đầu tư tranh nhau mua vào vì lo ngại chính sách tiền tệ dễ dãi của các ngân hàng trung ương sẽ châm ngòi cho sự bùng nổ của lạm phát và sự sa sút thảm hại giá trị tiền giấy.

Nhưng 5 năm sau đó, lạm phát toàn cầu vẫn ở mức thấp, kéo theo là sức hấp dẫn của vàng sa sút theo.

Vàng, một tài sản không sinh lợi tức và có thể mất chi phí nắm giữ, cũng đang trở nên kém hấp dẫn hơn nếu so sánh với những kênh đầu tư khác. Việc giới đầu tư và các nhà phân tích tin tưởng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ sớm thu hẹp chương trình nới lỏng định lượng QE3 đã làm lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ gia tăng. Cùng với đó, triển vọng hồi phục của kinh tế Mỹ đã đưa các chỉ số chính của thị trường chứng khoán Phố Wall lên mức cao kỷ lục.

“Vàng hiện nay thực sự không có nhiều sức hút”, ông Joseph Murphy, một nhà phân tích cấp cao thuộc quỹ hàng hóa trị giá 2 tỷ USD Hermes Commodities ở London, nhận xét. Quỹ này đã cắt giảm nắm giữ vàng trong năm nay. “Mọi người đang đi tìm các cơ hội tốt hơn, trên thị trường trái phiếu hoặc cổ phiếu”.

Những nhà đầu cơ sừng sỏ đã hứng chịu thua lỗ trong đợt giảm giá năm nay của vàng. Quỹ vàng của tỷ phú đầu cơ John Paulson mất tiền. Vào tháng 6, nhà đầu tư chứng khoán kỳ cựu Jeffery Vinik đóng cửa quỹ đầu cơ của mình và trả lại hàng tỷ USD cho khách hàng sau khi đạt kết quả đầu tư không như kỳ vọng vì sai lầm trong đặt cược vào cổ phiếu của các công ty khai mỏ vàng.

Các ngân hàng trung ương đã liên tục bán ròng vàng cho tới năm 2009. Đến năm 2010, nhóm này trở thành đối tượng mua ròng vàng. Dẫn đầu xu hướng mua vàng là ngân hàng trung ương của các nền kinh tế mới nổi. Các quốc gia này có lượng dự trữ ngoại hối gia tăng mạnh do thặng dư cán cân thương mại ở mức cao.

Tuy nhiên, đến năm nay, xu hướng này đảo ngược. Do tăng trưởng kinh tế giảm tốc ở các nền kinh tế mới nổi và giới đầu tư chuyển sang hứng thú hơn với tài sản ở các nền kinh tế phát triển, ngân hàng trung ương của các quốc gia mới nổi đã phải dùng dự trữ tiền mặt để ngăn các biến cố kinh tế và hỗ trợ tỷ giá đồng nội tệ. Vì lý do này, họ không còn nhiều USD để mua vàng.

Theo dự báo của công ty tư vấn Thomson Reuters GFMS, lượng vàng mua ròng của các ngân hàng trung ương trong năm 2013 có thể giảm 34% so với năm ngoái. Sự thoái lui của các ngân hàng trung ương đối với vàng diễn ra 2 năm sau khi khối này liên tục mua ròng với khối lượng năm sau cao hơn năm trước. Theo IMF, trong tháng 9, Ngân hàng Trung ương Nga đã bán 12.000 ounce vàng.

Giới chuyên môn nhận định, đợt giảm giá vàng của năm nay đã khiến các ngân hàng trung ương có thái độ thận trọng với vàng đứng ngoài thị trường, chờ cho tới khi giá cả ổn định hơn. Cũng theo số liệu của IMF, tính đến hết tháng 8 năm nay, tổng khối lượng vàng dự trữ của các ngân hàng trung ương trên toàn cầu tăng thêm 6,2 triệu ounce, so với mức tăng thêm 9,6 triệu ounce trong cùng kỳ năm 2012.

IMF thu thập các dữ liệu nói trên thông qua các bản báo cáo tự nguyện từ các ngân hàng trung ương. Dữ liệu được xem là chính xác đối với hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, mức dự trữ 33,9 triệu ounce vàng mà Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đưa ra là thấp hơn so với thực tế. Trung Quốc hiện là nước nắm giữ vàng lớn thứ 5 trên thế giới. IMF cho rằng, các ngân hàng trung ương toàn cầu hiện dự trữ hơn 1 tỷ ounce vàng, tương đương khoảng 29.000 tấn vàng.

Dù tốc độ mua vàng của các ngân hàng trung ương nói chung có giảm, hầu hết các ngân hàng trung ương vẫn duy trì nắm giữ đối với số vàng mà họ đã mua. Nhiều nhà phân tích cũng tin rằng, các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng, dù với tốc độ chậm hơn. Phát biểu tại một sự kiện của ngành vàng vào tháng 9, các quan chức ngân hàng trung ương từ Pháp, Đức và Argentina nói rằng, biến động giá vàng chưa thể khiến họ lên kế hoạch bán ra kim loại quý này.

Các quan chức ngân hàng trung ương nói rằng, mua vàng là một phần trong chiến lược đầu tư dài hạn được tính bằng hàng thập kỷ của họ. Các ngân hàng trung ương nhìn nhận việc nắm giữ vàng cũng tương tự như việc nắm giữ các đồng tiền mạnh như USD hay Yên Nhật, giống như một công cụ để đảm bảo sự ổn định cho các điều kiện kinh tế hoặc can thiệp vào thị trường tiện tệ khi cần thiết. Bởi vậy, các ngân hàng trung ương xem việc lãi hay lỗ đối với nắm giữ vàng chỉ là vấn đề thứ yếu.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư nói rằng, giá vàng sẽ càng khó mà tăng nổi trong bối cảnh các ngân hàng trung ương không còn “khát” vàng như trước. “Các nhà đầu tư, cho dù đó là nhà đầu tư nhỏ lẻ hay ngân hàng trung ương, đều có thể hành động kiểu bầy đàn”, ông Christoph Eibl, Giám đốc điều hành quỹ Tiberius Asset Management quản lý 1,55 tỷ USD, đánh giá.

An Huy

Nguồn: VNEconomy ngày 29/10/2013 truy cập từ http://vneconomy.vn/20131029033630522P0C6/vi-sao-gioi-dau-tu-quay-lung-voi-vang.htm.

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Giá vàng còn 37,5 triệu đồng/lượng, thấp nhất trong hai năm rưỡi

TTO - Sau đợt lao dốc sáng nay, đà giảm của giá vàng được tiếp nối trong suốt buổi chiều. Đà giảm của giá vàng càng lúc càng mạnh. Đến 18g ngày 26-6, giá vàng thế giới chỉ còn 1.229 USD/ounce, tương đương 31,17 triệu đồng/lượng.
 

Giá vàng tuột dốc không phanh ngày 26-6. Ảnh minh họa: Thanh Đạm

                 

Như vậy, chỉ trong ngày hôm nay giá vàng thế giới đã mất tổng cộng 48 USD/ounce (gần 1,21 triệu đồng/lượng).
 
Đà giảm của giá vàng thế giới kéo giá vàng trong nước xuống hết đáy này đến đáy khác. Kết thúc phiên giao dịch buổi sáng, giá bán vàng miếng SJC ở mức 38,15 triệu đồng/lượng, nhưng từ sau 14g giá vàng rụng dần, lúc 15g chỉ còn 37,85 triệu đồng/lượng. Đến cuối ngày giá bán vàng miếng SJC chỉ còn 37,5 triệu đồng/lượng. So với cuối ngày 25-6, giá vàng đã bốc hơi 1,17 triệu đồng/lượng, rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2-2011.
 
Việc giá vàng giảm quá mạnh cũng khiến nhiều người giữ vàng lo sợ. Từ xu hướng mua chủ đạo vào buổi sáng, buổi chiều khi giá vàng trong nước tiếp tục lao dốc mạnh, nhiều người đã bán ra cắt lỗ. Ông Nguyễn Công Tường, phó phòng kinh doanh sỉ Công ty SJC, cho biết lực bán mạnh lên vào cuối giờ chiều khiến tốc độ giảm của giá vàng càng mạnh thêm.
 
Trong khi đó giới phân tích tìm mọi lý do để lý giải cho cú lao dốc của vàng. Nhiều ý kiến cho rằng giá vàng giảm mạnh do chịu ảnh hưởng bởi thông tin khan hiếm tiền mặt trong hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc. Số khác cho rằng kinh tế Mỹ phục hồi nhanh hơn dự kiến khiến quan ngại về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thu hẹp gói kích thích kinh tế đang rõ nét hơn bao giờ hết.
 
Sáng mai 27-6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đấu thầu thêm 1 tấn vàng với giá tham chiếu để đặt cọc là 37,7 triệu đồng/lượng. Đến nay Ngân hàng Nhà nước để ngỏ khả năng có tiếp tục đấu thầu hay không sau khi các ngân hàng hoàn thành việc tất toán trạng thái vào ngày 30-6.


Hà Nội: cháy vàng miếng SJC
Chiều ngày 26-6, tại các cửa hàng vàng ở Hà Nội, khách ùn đến mua vàng khiến nhiều cửa hàng cháy vàng miếng SJC tạm thời. Bà Đỗ ở Nghĩa Tân cho biết "chưa bao giờ có thể nghĩ giá vàng xuống tới 37 triệu đồng/ lượng như chiều nay". Bà chỉ mua có 3 lượng vàng nhưng đợi 15 phút mà cửa hàng vàng của Bảo Tín Minh Châu ở Trần Nhân Tông vẫn chưa có hàng. Thế nên bà đành phải đến cửa hàng vàng của công ty vàng bạc SJC Hà Nội.
Đại diện trung tâm nghiên cứu và khảo sát thị trường Công ty vàng bạc Bảo Tín Minh Châu cho biết chiều 26-6 có những lúc cửa hàng tạm hết vàng miếng SJC chỉ trong 10-15 phút và chờ điều chuyển chứ không có chuyện cạn hàng. Đây cũng là tình trạng chung của các cửa hàng vàng trên thị trường.
Ghi nhận tại cửa hàng vàng trên phố Trần Nhân Tông, cửa hàng vàng công ty SJC chi nhánh Hà Nội ở phố Giang Văn Minh, khách xếp hàng tham khảo giá và mua vàng kah1 đông trong phiên giao dịch cuối ngày. Giá vàng SJC chốt phiên giao dịch hôm nay được công ty SJC niêm yết mức mua vào là 37, 150 triệu đồng/ lượng và bán ra là 37,520 triệu đồng/ lượng. Tuy nhiên, chênh lệch giữa vàng trong và ngoài nước vẫn duy trì ở mức kỷ lục là 6,4 - 6,5 triệu đồng/ lượng.
L.THANH

A.H.
 

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Vì sao người Việt Nam “sùng bái vàng”?

Ngân hàng Standard Chartered lý giải vì sao nhu cầu vàng Việt Nam thuộc hàng lớn nhất thế giới...

Vì sao người Việt Nam “sùng bái vàng”?
Theo Standard Chartered, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang gặp phải thách thức trong việc giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc nắm giữ vàng với số lượng lớn lên nền kinh tế.

Hôm nay (5/6), bộ phận nghiên cứu toàn cầu của Ngân hàng Standard Chartered công bố bản báo cáo về thị trường vàng Việt Nam với tựa đề: “Việt Nam - Sùng bái vàng”.Tựa đề đó được dẫn chứng ở những số liệu và đánh giá đáng chú ý.

Cụ thể, Việt Nam là quốc gia tiêu thụ vàng lớn thứ 4 tại châu Á sau Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan. Điểm đặc biệt ở Việt Nam đó là vàng, USD và tiền đồng đều được sử dụng rộng rãi như tiền tệ. Vàng vừa được dùng như một loại tiền, vừa như một phương tiện cất giữ, trong một số trường hợp, vàng thậm chí còn được coi trọng hơn cả tiền giấy.

Trong suốt quá trình lịch sử, vàng luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt với người Việt Nam, được sử dụng rộng rãi cho mục đích đầu tư và là phương thức thanh toán thay thế tiền mặt trong những giao dịch lớn. Trong những năm gần đây, vàng còn được sử dụng như một biện pháp chống lại lạm phát và suy thoái kinh tế thế giới.

Theo Ngân hàng Standard Chartered, nguyên nhân khiến nhu cầu vàng tại Việt Nam ở mức cao trước hết là từ yếu tố văn hóa. Nhiều người coi vàng là một phương tiện tích lũy đáng tin cậy và vẫn tiếp tục mua vào dù giá cả bất ổn.


Qua khảo sát với những người trong cuộc, bộ phận nghiên cứu của Ngân hàng Standard Chartered cho rằng, phần lớn người dân Việt Nam giữ vàng miếng và trang sức bằng vàng tại nhà, chỉ một lượng vàng nhỏ được gửi tại ngân hàng. Còn theo ước tính của Hiệp hội Vàng thế giới, tổng lượng vàng tích trữ tại Việt Nam hiện đạt khoảng 1.000 tấn, tương đương 45% GDP, trong khi đó, tại đa số các nước khác trên thế giới, tỷ lệ này chỉ đạt dưới 3% GDP.

Thứ hai, lạm phát quá nhanh trong những năm gần đây đã khiến người Việt lao vào giữ vàng. Chỉ trong vòng 5 năm, Việt Nam đã phải đối mặt với hai đợt lạm phát cao. Tỷ lệ lạm phát đạt đỉnh 23% vào tháng 8/2011, và Việt Nam đã phải mất gần một năm để đưa tỷ lệ này xuống dưới 10%. Nắm giữ vàng như hầm trú ẩn an toàn trước những rủi ro lạm phát và tác động do sức mua sụt giảm được coi là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ tài sản. Cũng có chung nhận định như vậy, những người sở hữu đất trước đây thường định giá đất bằng vàng (song song với VND) nhằm tránh tình trạng mất giá.

Một nguyên nhân khác được Ngân hàng Standard Chartered nhấn mạnh là do thiếu niềm tin vào đồng nội tệ, người Việt trở nên ưa chuộng vàng và USD. Kể từ cuối năm 2008, tiền đồng đã bị mất giá 23% do áp lực lạm phát và nền kinh tế có vị thế yếu trên trường quốc tế. Điều này đã là suy giảm niềm tin và nhu cầu đối với đồng nội tệ, dẫn đến tiền đồng đã yếu càng trở nên yếu hơn. Bài học mà người Việt rút ra được từ giai đoạn khắc nghiệt này đó là nên nắm giữ các loại “tiền tệ mạnh”, như vàng và USD.

“Những yếu tố này đã khiến cho nhu cầu vàng của Việt Nam cao nhất thế giới”, bản báo cáo kết luận.

Với thực tế trên, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước gặp phải thách thức trong việc giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc nắm giữ vàng với số lượng lớn lên nền kinh tế. Và vàng đã tạo nên nhiều rủi ro.

Đó là khi niềm tin đặt vào vàng và USD cao hơn so với tiền đồng đã làm suy yếu vai trò của đồng nội tệ và dẫn đến những rủi ro đối với hệ thống kinh tế Việt Nam. “Theo chúng tôi, những thách thức lớn nhất mà Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang phải đối mặt đó là làm giảm vai trò của vàng và USD trong các giao dịch nội địa cũng như vai trò của một phương tiện tích trữ và khuyến khích sử dụng tiền đồng như một loại tiền tệ chính. Cần thiết phải có một đồng nội tệ mạnh để hỗ trợ kiềm chế lạm phát và tăng cường niềm tin đối với nền kinh tế”, bản báo cáo đưa ra nhận định.

Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế đã gây ra tình trạng đầu cơ, buôn lậu vàng và hình thành nên một thị trường “chợ đen”… khiến giá vàng nội địa tăng cao và gây bất ổn kinh tế.

Một rủi ro nữa từ vàng được nhìn nhận ở những tác động tiêu cực lên cán cân thương mại và tỷ giá.

Dẫn nguồn từ Ngân hàng Nhà nước, báo cáo của Ngân hàng Standard Chartered cho biết Việt Nam nhập khẩu khoảng 100 tấn vàng (tương đương 4,4 tỷ USD) mỗi năm, chiếm 5% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Nhập khẩu vàng được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu và suy yếu cán cân thanh toán trong những năm gần đây, từ đó đặt áp lực mất giá lên tiền đồng. Kể từ năm 2009, các nhà chức trách đã 5 lần hạ giá đồng nội tệ trong bối cảnh cán cân thanh toán suy giảm và lạm phát tăng cao.


Để hạ nhiệt các cơn sốt vàng, hạn chế những tác động của nó đối với kinh tế vĩ mô, từ năm 2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã lần lượt đưa ra nhiều giải pháp, như hạn chế lượng cung qua giới hạn nhập khẩu, kiểm soát rồi ngừng huy động và cho vay vàng; và gần đây là việc triển khai Nghị định 24 với độc quyền xuất nhập khẩu và sản xuất vàng miếng, tổ chức đấu thầu…

Tuy nhiên, bộ phận nghiên cứu của Ngân hàng Standard Chartered vẫn quan ngại về tính hiệu quả của những biện pháp được áp dụng gần đây.

Đó là lượng cung vàng nội địa vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, thể hiện qua việc khoảng cách chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới tiếp tục duy trì ở mức cao. Do nguồn cung không đủ và tâm lý ưa chuộng vàng của người tiêu dùng, giá vàng nội địa trong những năm gần đây luôn cao hơn giá vàng quốc tế.

“Theo ước tính của chúng tôi, kể từ phiên đấu thầu đầu tiên của Ngân hàng Nhà nước, mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế đạt trung bình 250 USD/oz, cao hơn 30% so với thời điểm trước đó. Trong khi đó, sự chênh lệch này tại các nước khác chỉ khoảng 1-10 USD/oz”, bản báo cáo đưa ra số liệu so sánh.

Mặt khác, hiện Ngân hàng Nhà nước đang dùng vàng dự trữ ngoại hối để đấu thầu, đồng thời nhập khẩu một lượng vàng tương đương để duy trì dự trữ ngoại hối. Quan ngại đưa ra trong bản báo cáo là, điều này rốt cuộc lại làm giảm dự trữ ngoại hối do các ngân hàng trong nước chỉ có thể dùng VND để mua vàng từ Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, điều này còn đặt áp lực giảm giá lên tiền đồng.

“Các biện pháp hiện hành sẽ chỉ có tác động đến thị trường trong ngắn hạn. Thúc đẩy sự ổn định của nền kinh tế, cải thiện niềm tin vào tiền đồng và làm giảm nhu cầu về vàng sẽ đóng vai trò quan trọng nhằm bình ổn thị trường vàng nội địa trong dài hạn”, báo cáo của Ngân hàng Standard Chartered đưa ra khuyến nghị.


KHÁNH HÒA
Nguồn: VN Economy ngày 05/06/2013, truy cập từ http://vneconomy.vn/20130605035149933P0C6/vi-sao-nguoi-viet-nam-sung-bai-vang.htm.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Vàng, Buffett và một trật tự tiền tệ mới

Warren Buffett được coi là Yoda1 của giới tài chính. Ông là nhà đầu tư xuất sắc nhất trong việc tạo ra lợi nhuận trong nền kinh tế Mỹ. Với ông, vàng chỉ là một thứ sau khi được lôi ra khỏi mặt đất thì được lưu trữ trong hầm. Vàng không tạo ra lợi nhuận.

warren-buffett
Warren Buffett kiếm tiền trong khoảng 70 năm trong khi vàng đã bảo toàn giá trị trong khoảng 5.000 năm. Buffett sẽ chết còn vàng thì không Warren Buffett được coi là Yoda1 của giới tài chính. Ông là nhà đầu tư xuất sắc nhất trong việc tạo ra lợi nhuận trong nền kinh tế Mỹ. Với ông, vàng chỉ là một thứ sau khi được lôi ra khỏi mặt đất thì được lưu trữ trong hầm. Vàng không tạo ra lợi nhuận.

Sự khác biệt lớn là ở chỗ Buffett kiếm tiền trong khoảng 70 năm trong khi vàng đã bảo toàn giá trị trong khoảng 5.000 năm. Buffett sẽ chết còn vàng thì không. Khả năng kiếm tiền của Buffett phụ thuộc vào sự tăng trưởng liên tục của kinh tế Mỹ. Quan trọng hơn là nó phụ thuộc vào kỹ năng của một nhà đầu tư. Còn vàng thì bất tử.

Vàng sẽ tiếp tục tồn tại ngay cả không có kinh tế Mỹ. Vàng không có khả năng đầu tư nhưng giá trị của vàng đã tăng 42 lần trong nhiều năm qua.

Vàng sẽ đem lại cho các nhà đầu tư lợi nhuận tốt hơn nếu được mua vào năm 1970, sau đó bán tại mức giá 850 USD/ounce và mua lại vào năm 2005 với giá khoảng 300 USD/ounce. Lợi nhuận sẽ là gần 120 lần nếu các nhà đầu tư mua vàng từ những năm 60.

Thế giới đều biết rằng vàng sẽ luôn luôn bảo toàn giá trị theo thời gian, nhưng cũng cần biết rằng Buffett đã làm rất tốt. Cho đến nay, mọi người đều biết đến khả năng của ông, biết ông làm được những gì.
Về phía vàng, mức tăng tới 42 lần trong những năm qua là rất đáng kể. Dù chính phủ Mỹ cam kết sẽ đảm bảo giá trị đồng USD, nhưng mọi người đang mất niềm tin vào điều này. Nếu Mỹ mất quyền bá chủ của USD, giá trị của đồng USD sẽ giảm rất nhiều. Tài sản của Warren Buffett có thể tăng lên trong điều kiện USD yếu hơn. Nhưng nếu Mỹ mất của cải và quyền lực nhiều hơn vào thời điểm này và kinh tế Mỹ chìm trong lạm phát, giá trị thực của tài sản của ông có thể được đo trong vàng? Nói cách khác, tài sản của ông phụ thuộc vào sự giảm giá của USD.

Trong khi đó, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) tiếp tục giữ vàng dự trữ lớn nhất thế giới với 8.133 tấn, hơn 4742 tấn so với mức 3.391,3 tấn do Đức nắm giữ. FED coi đây là một tài sản dự trữ quan trọng để tài trợ nhập khẩu nếu USD không được chấp nhận. Ngay cả bây giờ, ông Ben Bernanke vẫn giữ quan điểm cho rằng vàng không phải là tiền. Vậy tại sao phải giữ vàng?

“Vàng không được mua để kiếm tiền nhưng được mua bởi những người có tiền.” Câu nói trên đã nêu bật sức hấp dẫn của vàng. Đó là lý do tại sao người Ấn Độ sở hữu tới 20.000 tấn vàng còn Trung Quốc đang mua nhiều như thể họ có đủ khả năng giữ giá vàng tiếp tục tăng. Ngân hàng trung ương các quốc gia mới nổi cũng đang mua liên tục vàng với lý do tương tự như Mỹ.

Vàng là một bảo hiểm cho chính phủ và hệ thống tiền tệ của quốc gia, nhằm đảm bảo an ninh tài chính. Do vậy, vàng chưa bao giờ bị cạnh tranh bởi các hoạt động đầu tư khác. Vàng cũng giúp các nhà đầu tư giữ lại tài sản thông qua hai cuộc chiến tranh thế giới và sự giảm giá của tiền.

Tất nhiên Warren Buffett sẽ không đầu tư vào vàng vì ông là một nhà điều hành xuất sắc và sẽ tiếp tục làm tốt miễn là ông còn có thể quản lý các khoản đầu tư. Ông vẫn tiếp tục sáng chói trong hệ thống tài chính vốn dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, ông vẫn như chết như các Hiệp sĩ Jedi.

Cần có các kỹ năng trong xử lý vàng để mua vàng tại mức giá thấp trước sự thay đổi của hệ thống. Nhiều khả năng vàng sẽ tiếp tục tăng giá, bất kể mức độ bất ổn ở phía trước. Giá vàng theo USD sẽ tăng cao hơn mức tăng trong 40 năm qua và vàng trở thành một phần quan trọng trong hệ thống tiền tệ trong tương lai.
——————
1. Yoda là một nhân vật trong bộ phim truyện nổi tiếng Chiến tranh giữa các vì sao. Yoda là bậc thầy cả về khả năng linh cảm và kĩ năng cận chiến sử dụng kiếm laser. Yoda thọ 900 năm và đào tạo rất nhiều hiệp sĩ Jedi từ khi họ mới bộc phát năng khiếu Jedi đến khi họ trở thành một thầy Jedi hùng mạnh (theo wiki).
VangVietNam





 
 

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Né cú tát của “gấu vàng”

Thị trường vàng Việt Nam như ở xa tầm cú tát của “gấu vàng” trên thị trường thế giới...

 

Né cú tát của “gấu vàng”
Gần hai tháng qua, giá vàng thế giới chứng kiến những cú rơi mạnh, có gượng nhưng rồi lại trượt sâu. Trong nước, hai tháng qua, giá vàng cũng đã giảm đáng kể, nhưng chỉ hơn 7%.
 

Một lần nữa chênh lệch giá vàng trong nước với thế giới lại vượt xa mức 6 triệu đồng/lượng…
Ở chứng khoán, thị trường con gấu (bear market) là thuật ngữ dùng để nói một xu hướng đi xuống kéo dài, như cú tát của con gấu từ trên xuống. Ngược lại, thị trường bò tót (bull market) dùng để nói một xu hướng đi lên kéo dài, như cú húc của chú bò tót từ dưới lên.

Thông thường, giá chứng khoán sụt giảm kéo dài, mất từ 20% so với đỉnh cao nhất, được xem là thị trường con gấu. Và ngược lại.

Ở vàng, một “thị trường con gấu” với cú tát của nó dường như đang hình thành.

Một kiểu… luộc ếch

Gần hai tháng qua, giá vàng thế giới chứng kiến những cú rơi mạnh, có gượng nhưng rồi lại trượt sâu. Trong khoảng thời gian đó, giá vàng thế giới từ trên 1.600 USD/oz, xuống thấp nhất gần 1.350 USD/oz và hiện như đang trong hành trình thử lại đáy này, tức giảm khoảng 15%.

Trong nước, hai tháng qua, giá vàng cũng đã giảm đáng kể, nhưng chỉ hơn 7%. Giảm ít hơn và trượt chậm hơn.
Chênh lệch giá vì thế doãng rộng và có lý do của nó. Nhưng cũng chính vì thế mà thị trường trong nước đến lúc này có thể nói đã né đi cú tát của “gấu vàng” thế giới.

Trao đổi với báo chí mới đây, ông Lê Minh Hưng, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nói rằng, một trong những mục tiêu bình ổn thị trường vàng trong nước là làm sao giữ được ổn định, tránh được những cú sốc gây xáo trộn hay tác động tiêu cực tới vĩ mô. Thời gian qua, thị trường vàng trong nước ít sóng, ít sốc, nên đã hạn chế được những xáo trộn.

Giả sử, cú tát của “gấu vàng” thế giới chuyển nguyên đòn vào thị trường vàng Việt Nam, ông Hưng dự tính sẽ có những bất ổn. Như hiện nay, giá trong nước sẽ giảm về khoảng 34,5 triệu đồng/lượng, một dòng vốn lớn có thể đổ xô vào vàng, phía sau đó là thanh khoản hệ thống ngân hàng lung lay, xáo trộn lãi suất và nhiều hệ lụy… Thực tế những năm trước đã chứng minh tác động ghê gớm của những “cú tát” như vậy.

Thực tế giá trong nước có giảm, nhưng trượt dần và gần như không gây sốc hay hỗn loạn như từng có trước đây. Tác động từ những biến động rất mạnh trên thị trường thế giới, ngay cả cú rơi khủng khiếp ngày 15/4 vừa qua, đã bị pha loãng như một kiểu… luộc ếch.

Trong đời sống thường ngày, chuyện luộc ếch vẫn được dẫn như một ví dụ kinh điển về sự thay đổi, hay tránh gây sốc. Chuyện là, nếu luộc một con ếch bằng cách thả thẳng vào nồi nước đang sôi, nó sẽ nhảy vọt hoặc quậy mạnh; nhưng nếu nhẹ nhàng để vào nồi nước lạnh, đun nóng từ từ, con ếch sẽ nằm im đến khi không đủ sức để quậy.

Bình ổn thị trường vàng vừa qua giống như ví dụ trên vậy. Nếu liên thông và bắt nhịp ngay sự nóng bỏng của thị trường thế giới, như cú rơi ngày 15/4 hay liên tiếp những phiên giảm khá mạnh gần đây, thị trường trong nước chắc chắn sẽ quậy mạnh và khiến nhiều vấn đề khác có thể nghiêng ngả theo.

Câu hỏi là, vì sao thị trường vàng trong nước lại “bị luộc” và không quậy? Vì không có sự liên thông; thêm nữa, lúc này Ngân hàng Nhà nước đang tạo tín hiệu giá.

Khó “thả câu” vào đấu thầu vàng

Ngoại trừ phiên ngày 16/4 sau
cú rơi ba mươi năm có một trên thị trường thế giới, suốt 18 phiên đầu thầu còn lại tính đến ngày 17/5, các thành viên tham gia đều khó “thả câu” để kiếm những chú cá lớn là chênh lệch giá.

Những phiên đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước gây thất vọng khi chào giá quá chát, cao hơn thị trường tại cùng thời điểm. Giá đấu thầu của hầu hết các thành viên chỉ bám sát giá sàn, bởi đặt cao hơn, giá cao hơn mức đang giao dịch bên ngoài thì có thể lỗ.

Những phiên tiếp theo, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục bán giá cao. Nhìn nhận của các thành viên dự thầu hẳn đã thay đổi. Nhà bình ổn đang phát đi tín hiệu giá, và giá trên thị trường (trong nước) xoay quanh nó. Quan trọng hơn, tạm thời không có mục tiêu hạ giá đấu thầu thật thấp để nhanh chóng thu hẹp chênh lệch với giá thế giới. Một số thành viên dự thầu bắt đầu mạnh dạn đặt giá cao hơn, thậm chí có phiên cao hơn giá sàn trên dưới 150.000 đồng/lượng. Có lẽ họ tin rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ không hạ giá thấp, thị trường định hình theo đó, chênh lệch vẫn lớn và chưa thể thu hẹp ngay, nên đặt cao vẫn có thể bán lại được giá cao hoặc vẫn có lợi.

Nhưng rồi những phiên gần đây, mua vàng đấu thầu nếu không đẩy hàng được ngay thì dễ lỗ. Giá đặt thầu không còn vượt xa giá sàn, hay việc “thả câu” trở nên khó khăn, mà thực tế là loạt phiên “ế” vàng đấu thầu khá lớn. Ngân hàng Nhà nước vẫn bán giá sát thị trường, trong khi giá thế giới liên tục giảm và vẫn có sự lôi kéo nhất định.

Một phần nguyên nhân là do các ngân hàng thương mại đã mua và tất toán trạng thái đáng kể. Nhưng nhu cầu hiện vẫn lớn, chỉ có điều rủi ro giá xuống thể hiện rõ những phiên vừa qua khiến họ dè chừng.

Còn Ngân hàng Nhà nước, đến nay vẫn giữ quan điểm không áp giá bán theo nhịp biến động mạnh của giá thế giới. Ngoài việc tránh thả thẳng ếch vào nồi nước nóng, né cú tát của “gấu vàng” thế giới để giảm thiểu những xáo trộn hoặc bất ổn có thể xẩy ra, có lẽ họ vẫn e ngại nếu cái ao của mình bị khách thả câu và bắt được những chú cá lớn.


MINH ĐỨC
Nguồn: VnEconomy ngày 18/05/2013 truy cập từ http://vneconomy.vn/20130518033033686P0C6/ne-cu-tat-cua-gau-vang.htm.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Giá vàng thế giới “rơi tự do”

Nếu phản ánh hết mức giảm của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước sáng nay (42,2 triệu đồng/lượng) phải giảm trên 2 triệu đồng/lượng...Giá vàng thế giới “rơi tự do”
Biểu đồ diễn biến giá vàng giao ngay tại thị trường New York phiên ngày 12/4 (đường màu xanh lá), ngày 11/4 (đường màu đỏ) và ngày 10/4 (đường màu xanh da trời) - Nguồn: Kitco.
Một phiên bán tháo nữa đã đẩy giá vàng quốc tế “bốc hơi” hơn 5% vào đêm qua. Với phiên lao dốc này, giá vàng chốt lại tuần mất giá tồi tệ nhất kể từ tháng 12/2011.Phiên giao dịch cuối tuần tại thị trường New York chứng kiến giá vàng lần đầu tiên tuột xuống dưới ngưỡng 1.500 USD/oz kể từ tháng 7/2011. Mức sụt giảm chóng mặt chính thức đưa vàng vào thị trường giá xuống (bear market, thuật ngữ dùng để chỉ một thị trường giảm điểm ít nhất 20% kể từ đỉnh gần nhất).

Hãng tin Reuters cho biết, các nhà đầu tư tổ chức đang tháo chạy khỏi thị trường vàng để chuyển sang các kênh đầu tư khác. Rủi ro từ hoạt động bán vàng của các ngân hàng trung ương và tâm lý ngày càng bi quan về triển vọng giá vàng khiến kim loại quý này gần như không còn yếu tố hỗ trợ trong ngắn hạn.

Quy mô của đợt bán tháo này có thể sẽ càng củng cố thêm những dự báo cho rằng, đợt tăng giá kéo dài suốt 12 năm qua của vàng đang đi vào hồi kết.

Lúc đóng cửa, giá vàng giao ngay bị “gọt” mất 84 USD/oz, tương đương mức giảm 5,4%, còn 1.478 USD/oz. Tính chung cả tuần, giá vàng giảm trên 6%.

Trên thị trường vàng giao sau, giá vàng giao tháng 6 có thời điểm rớt về ngưỡng 1.476 USD/oz. Khi đóng cửa phiên, giá vàng dừng ở mức 1.501,4 USD/oz, hạ 4,1%.

Nếu phản ánh hết mức giảm của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước sáng nay phải giảm trên 2 triệu đồng/lượng.

Trong phiên đấu thầu ngày hôm qua, Ngân hàng Nhà nước đã bán được cho các đơn vị trúng thầu 40.000 lượng vàng. Đơn vị trúng thầu nhiều nhất mua được 10.000 lượng, ít nhất mua được 1.000 lượng. Như vậy, có thể thấy, rủi ro thua lỗ là rất lớn nếu những số lượng vàng này được nắm giữ qua đêm.

Đà bán tháo trên thị trường vàng New York đã tăng tốc trong phiên đêm qua sau khi thống kê của Mỹ cho thấy doanh thu bán lẻ tại nước này bất ngờ suy giảm. Số liệu này đẩy thị trường chứng khoán Phố Wall giảm điểm, giá dầu thô sụt mạnh, nhưng lại đẩy đồng USD tăng giá với tư cách một tài sản an toàn. Giới đầu tư cũng mạnh tay gom mua trái phiếu kho bạc Mỹ.

Tuần này, xuất hiện thêm một số nhân tố mới gây sức ép giảm giá cho vàng, bao gồm một kế hoạch dự thảo bán vàng của đảo Cyprus để có nguồn tài chính cho giải quyết khủng hoảng nợ. Việc các quỹ tín thác (ETF) đầu tư vàng hàng đầu như SPDR Gold Trust liên tục xả hàng càng khiến tâm lý của thị trường đối với vàng thêm phần bi quan.

“Quy mô của đợt giảm giá này thật lớn. Thị trường đã cố hồi phục nhưng không thể… Giá vàng đang mất hết lực hỗ trợ… giống như một con dao cắt qua một miếng bơ”, nhà phân tích Robin Bhar thuộc ngân hàng Societe Generale đánh giá.

Reuters cho biết, tốc độ bán tháo vàng gia tăng trong phiên hôm qua có vẻ như có liên quan tới sự biến động của giá trái phiếu chính phủ Nhật. Sự biến động này buộc một số nhà đầu tư phải bán ra các tài sản khác, trong đó có vàng, để bù lỗ.

Tình hình càng tệ hơn khi khối lượng giao dịch trên các sàn vàng có sự gia tăng mạnh từ lúc giá vàng mất ngưỡng hỗ trợ then chốt 1.521 USD/oz.

Kể từ đỉnh cao kỷ lục 1.920,3 USD/oz đạt được vào tháng 9/2011, giá vàng đến nay đã giảm 23%, rơi vào thị trường giá xuống.

Trước đợt giảm giá này, vàng đã có hơn 1 thập kỷ tăng giá với vai trò “vịnh tránh bão” số 1 trong bối cảnh những lo ngại về lạm phát do chính sách bơm tiền ồ ạt vào thị trường của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) nhằm kích thích nền kinh tế lớn nhất thế giới hậu khủng hoảng tài chính.

Với những tín hiệu hồi phục đang diễn ra trong nền kinh tế Mỹ thời gian gần đây, giá vàng rơi vào cảnh chịu sức ép giảm lớn. Giới đầu cơ tại Mỹ đang có mức nắm giữ các hợp đồng vàng đầu cơ giá lên thấp nhất kể từ tháng 12/2008.

“Liệu giá vàng có thể thử phá ngưỡng 1.300 USD/oz hay 1.200 USD/oz trong ngắn hạn trên phương diện kỹ thuật? Câu trả lời là hoàn toàn có thể”, ông Geoffrey Fila, nhà quản lý danh mục thuộc quỹ Galtere ở New York, đánh giá.

Các kim loại quý khác cũng bị bán tháo trong phiên giao dịch đêm qua, trong đó giảm giá mạnh nhất là bạc. Giá bạc sụt gần 5,4%, chốt phiên ở 26,12 USD/oz. Thị trường hàng hóa nói chung đã có một phiên tồi tệ. Giá dầu thô Brent sụt xuống mức thấp nhất trong 9 tháng.

Cách đây ít hôm, Ủy ban châu Âu (EC) đưa ra đánh giá rằng, đảo Cyprus cần phải bán 10 tấn vàng dự trữ quốc gia để huy động 400 triệu Euro, tương đương khoảng 525 triệu USD, góp vào kế hoạch giải cứu chính nước này. Đây là khối lượng vàng không lớn, nhưng thị trường tin rằng, những quốc gia nặng nợ ở Eurozone như Italy và Bồ Đào Nha rốt cục có thể sẽ đến lúc phải bán vàng như Cyprus để giải quyết tình trạng nợ nần.

“Nếu như Cyprus có thể gây sóng gió trên thị trường vàng, thì sẽ có nhiều lý do để mà lo ngại. Slovenia, Hungary, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Italy cũng đều có thể phải bán vàng”, ông Milko Markov, nhà phân tích đầu tư thuộc SK Hart Management, nhận định.

Tổng lượng vàng nắm giữ trong các quỹ tín thác vàng hàng đầu thế giới hiện đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm 2012.

Đêm qua, quỹ tín thác vàng lớn nhất thế giới là SPDR Gold Trust đã bán ra gần 23 tấn vàng, giảm khối lượng nắm giữ về mức 1.158,6 tấn vàng. Cả tuần, quỹ này xả 46,7 tấn vàng. Trong 2 tuần trở lại đây, quỹ đã bán gần 63 tấn vàng.  


AN HUY
Nguồn: VN Economy ngày 13/04/2013 truy cập từ http://vneconomy.vn/20130413064856983P0C6/gia-vang-the-gioi-roi-tu-do.htm.

GIÁ VÀNG:

Đơn vị tính: ngàn đồng/lượng
LoạiMuaBán
Hồ Chí Minh
Vàng SJC 1 Kg41.90042.200
Vàng SJC 10L41.90042.200
Vàng SJC 1L41.90042.200
Vàng SJC 5c41.90042.220
Vàng SJC 0.5c, 1c, 2c41.90042.230
Vàng nhẫn SJC 99,99 5p,1c,2c,5c39.90040.200
Vàng nữ trang 24 K39.20040.200
Vàng nữ trang 18 K28.30330.303
Vàng nữ trang 14 K21.58923.589
Vàng nữ trang 10 K14.91516.915

Nguồn: Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC ngày 13/04/2013 truy cập từ http://www.sjc.com.vn/?n=0.

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

Các ngân hàng trung ương kiểm soát thị trường vàng như thế nào?



Trong một thời gian dài, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã nắm quyền kiểm soát thị trường và giá vàng nhằm mang lại lợi ích cho mình.

Các ngân hàng trung ương đã bao giờ kiểm soát thị trường vàng?

Câu trả lời là có. Bản vị Vàng là hệ thống kiểm soát cuối cùng mà họ có cho tới khi nó bị loại bỏ. Sau đó, chính quyền của Tổng thống Mỹ Roosevelt đã giành quyền kiểm soát thị trường vàng của nước này khi ông tịch thu tất cả vàng trong nước năm 1933. Quyền sở hữu vàng chỉ được khôi phục vào đầu năm năm 1970. Thậm chí sau đó, quyền được tuyên bố sở hữu vàng là một đặc ân chứ không phải là một quyền.

Rất ít người thực sự đánh giá cao mức độ kiểm soát thị trường vàng và giá vàng của ngân hàng trung ương. Đó là một khía cạnh quan trọng của thị trường vàng và giá vàng.

Ngân hàng trung ương kiểm soát vàng

Khi euro (đồng đô la nằm bên ngoài nước Mỹ và không chịu sự kiểm soát của luật pháp Mỹ) xuất hiện ở châu Âu, các ngân hàng trung ương châu Âu không vui vẻ gì và bán chúng đổi lấy vàng Mỹ. Sau đó, tổng thống Nixon, với sự sáng suốt của mình đã đóng “cửa sổ vàng” (nhưng chỉ sau khi châu Âu tăng mạnh dự trữ, gửi khoảng 12.000 tấn vàng tại các hầm chứa châu Âu).

Trong một hiệp ước các bên cùng có lợi, nhưng bí mật, thế giới sau đó chứng kiến đồng đô la Mỹ trở thành đồng tiền dự trữ toàn cầu. USD giữ được ngôi vị của mình bởi nó là đồng tiền duy nhất được dùng để mua dầu, dầu là tất cả những gì chúng ta cần.

Mất kiểm soát

Sau năm 1971, vàng bắt đầu tăng giá mạnh mẽ, giá vàng từ 42,35 USD/ounce lên 850 USD/ounce. Đây là một tuyên bố công khai rằng công chúng đầu tư toàn cầu không chấp nhận các loại tiền giấy không được bảo đảm bằng vàng. Chúng đơn giản trở thành các nghĩa vụ của chính phủ mà không có ngày thanh toán.

Các ngân hàng trung ương phải hành động để đảm bảo công chúng chấp nhận các đồng tiền này và từ bỏ việc giữ vàng như tiền. Để làm điều đó, nước Mỹ và mở rộng hơn là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) quyết định giới hạn việc bán vàng qua các cuộc đấu giá (hạn chế bởi các ngân hàng trung ương vẫn muốn giữ vàng như một tài sản dự trữ quan trọng trong kho của mình). Tất cả số vàng thỏi được bán tại các cuộc đấu giá đều được chộp lấy. Thực tế việc các ngân hàng trung ương muốn giữ vàng và các cuộc bán đấu giá bị hủy bỏ.

Giành lại quyền kiểm soát

Một chiến thuật khác được sử dụng sau đó. Lần này, các ngân hàng trung ương cho các thợ đào vàng vay vàng, họ là những người sử dụng nó để tài trợ cho sản xuất vàng. Điều này khiến lượng vàng đưa vào thị trường cực lớn, thậm chí quá lớn để thị trường có thể hấp thụ được. Giá vàng giảm ngay sau đó xuống mức đáy năm 1999 với 275 USD. Nhưng các ngân hàng trung ương về mặt kỹ thuật vẫn sở hữu vàng khi các nhà sản xuất hoàn trả khoản vay của họ bằng vàng từ các mỏ của họ.

Cùng lúc, các ngân hàng trung ương cung cấp một chiến lược được chuẩn bị chu đáo là nói bóng gió rằng các ngân hàng trung ương có thẻ bán tất cả số vàng mà họ có được từ trước đến giờ. Thị trường và các nhà phân tích đều cắn câu. Công việc đảm bảo rằng USD là đồng tiền dự trữ toàn cầu duy nhất sau đó đạt được mà không cần tới sự can thiệp của vàng.

Tới khi đồng euro xuất hiện trên thị trường với vai trò là đồng tiền của khu vực châu Âu, thay cho đồng Franc Pháp, Mark Đức và Lira Italia… Nhiệm vụ dễ dàng hơn bằng chiến dịch chống vàng nhằm đảm bảo việc chấp nhận đồng USD, đồng euro đã nhanh chóng trở thành đồng tiền số hai của thế giới. Tuy nhiên, nỗi lo ngại rằng người châu Âu thích vàng hơn vẫn còn, vì thế các lãnh đạo ngân hàng trung ương châu Âu đã thực hiện một số thỏa thuận để bán một lượng giới hạn vàng trong 15 năm (vẫn còn khoảng 1 năm nữa).

Thật bất ngờ, điều này đã loại bỏ lo ngại rằng các ngân hàng trung ương bán vàng. Giá vàng tăng trở lại, các nhà khai thác vàng theo thời gian mua lại tất cả các khoản đảm bảo của mình (phù hợp với hoạt động bán hàng theo tiến trình của các ngân hàng trung ương). Năm 2009, cả người khai thác vàng các các ngân hàng trung ương đã để doanh số bán hàng và số tái bảo hiểm phòng hộ của mình gần như về không.

Cho tới năm 2009, chắc chắn thị trường vàng đã phản ứng với chính sách với vàng của ngân hàng trung ương, và giá cũng thay đổi theo. Hãy đối mặt với chuyện rằng nếu họ không thực sự loại bỏ hơn 30.000 tấn vàng, giá vàng sẽ sụp đổ. Các ngân hàng trung ương biết rõ ràng những tác động của việc lo ngại rằng họ có thể bán vàng. Điều đó đảm bảo một cách chắc chắn rằng khó có khoản đầu tư nào vào vàng. Điều này cũng là sự kiểm soát!

Các ngân hàng trung ương lại mất kiểm soát vàng một lần nữa?

Đầu năm 2009 các ngân hàng trung ương châu Âu đã để mặc hoạt động kinh doanh vàng của mình đi xuống. Điều này cho thấy người ta đã không còn thèm khát vàng. Đồng euro sau đó hoàn toàn được chấp nhận bởi tất cả mọi người. Các nhà điều hành ngân hàng trung ương tái thiết lập tầm quan trọng của vàng bằng cách chấm dứt kinh doanh vàng. Nhưng lãnh đạo các ngân hàng trung ương châu Âu đã làm rõ trong thỏa thuận được gọi là “Hiệp định Washington” rằng tất cả các bên ký kết coi vàng là một tài sản dự trữ quan trọng. Do đó, họ vui mừng khi thấy giá vàng tăng.

Ngay sau đó, khủng hoảng tín dụng đe dọa lĩnh vực ngân hàng và lây lan sang khủng hoảng nợ công. Thế giới tiền tệ không còn vững chắc và vàng được nắm giữ nhiều hơn. Sức hấp dẫn của vàng với các lãnh đạo ngân hàng trung ương được khẳng định lại trong điều kiện như thế.

Tại sao vàng là tài sản dự trữ quan trọng? Trong thời gian tài chính quốc tế căng thẳng, vàng sẽ giải quyết các nghĩa vụ tài chính quốc tế, khi chính phủ hứa sẽ không. Chúng ta đang ở thời điểm mà căng thẳng tài chính kéo theo toàn bộ hệ thống tiền tệ toàn cầu. Chúng ta đang ở ngưỡng chờ đợi có thể là một cuộc xung đột tiền tệ toàn cầu. Điều này có nghĩa các ngân hàng trung ương sẽ không thể bán vàng của mình.

Họ không còn kiểm soát nguồn cung vàng nữa. Sự kiểm soát của ngân hàng trung ương kể từ năm 1985 chỉ làm được đến mức là làm suy yếu giá vàng. Họ đã đặt mình ở vị thế mà họ thậm chí không thể mua vàng dự trữ cho mình. Làm như thế cũng ám chỉ rằng họ chấp nhận việc họ đang mất niềm tin vào tiền giấy. Điều đó không bao giờ được xảy ra. Vì vậy, họ ngồi vững trên 30.000 tấn vàng mà họ đang có, nhưng mất kiểm soát giá vàng. Điều đó xảy ra khi họ ngừng bán vàng.

Tóm lại, ngân hàng trung ương các nước phát triển có thể kiểm soát thị trường vàng trong thời kỳ Bản vị Vàng, bởi họ hành động nhất quán và theo luật pháp quốc gia (và mở rộng ra quốc tế). Họ gần như mất đi điều đó khi châu Âu mua vàng từ Mỹ cho tới khi tổng thống Nixon đóng “cửa sổ vàng”. Sau đó họ mất kiểm soát thị trường vàng từ năm 1971 tới khoảng 1985. Quyền kiểm soát được tái lập thông qua hoạt động hỗ trợ sản xuất và khuyến khích nhu cầu vàng cho tới năm 1999. Sau đó, lãnh đạo các ngân hàng trung ương giới hạn kiểm soát thông qua giới hạn mức kinh doanh, cho phép giá vàng tăng ổn định.

Lý do chính làm sụp đổ sự kiểm soát của ngân hàng trung ương với thị trường vàng và giá vàng là khi các thị trường mới nổi tham gia mua vàng. Các ngân hàng trung ương phương Tây không có khả năng hợp tác để đẩy giá vàng đi xuống bởi họ cần vàng trong dự trữ của mình. Lãnh đạo các ngân hàng trung ương thế giới (các nước phát triển và mới nổi) có lợi ý khác nhau. Không gì có thể đáp ứng tất cả tốt như vàng. Hiện nay, khi niềm tin vào tiền của các nước phát triển trên thế giới đang suy yếu, vàng trở thành một tài sản dự trữ quan trọng. Kỹ thuật là sẽ mua đủ khối lượng vàng mà không đẩy giá vàng tăng vọt.

Lãnh đạo ngân hàng trung ương trên toàn cầu chia rẽ vì vàng, với một số mua vào, số khác nắm giữ, nhưng gần như không có ngân hàng trung ương nào bán ra. Nếu không có được ý tưởng thống nhất, các ngân hàng trung ương sẽ không thể kiểm soát thị trường vàng hay giá của nó nữa. Họ gần như cạnh tranh với nhau và với cả các nhà đầu tư khác để có vàng.àng như thế nào?

Theo Gafin

GIAVANG.NET

Nguồn: GIAVANG.NET ngày 21/01/2013 truy cập từ http://www.giavang.net/cac-ngan-hang-trung-uong-kiem-soat-thi-truong-vang-nhu-the-nao/.