Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

“Tiếng nói độc lập được lắng nghe còn ít”

SGTT - Trở về Việt Nam sau khi hoàn thành chương trình tiến sĩ kinh tế học tại đại học Boston College (Mỹ) năm 2004, Vũ Thành Tự Anh tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.
Anh thường xuyên có những bài viết phân tích chính sách sắc sảo đăng tải trên các báo trong nước, và các bài trình bày tại các hội nghị, hội thảo lớn. Anh được biết đến nhiều hơn từ khi chương trình đối thoại chính sách giữa Chính phủ Việt Nam và trường Quản lý nhà nước Kennedy thuộc đại học Harvard được xác lập năm 2007. Cùng một nhóm các nhà nghiên cứu Việt Nam và Mỹ thuộc Chương trình Việt Nam của đại học Harvard, những bài viết đóng góp chính sách thẳng thắn của nhà kinh tế học 36 tuổi này góp phần tạo ra những tranh luận về nhiều vấn đề chính sách phát triển quan trọng.

Chương trình đối thoại chính sách giữa Chính phủ Việt Nam và Harvard được bắt đầu như thế nào, ai là người khởi xướng, thưa anh?
Chương trình này bắt đầu vào năm 2007, khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự khoá họp thường niên Đại hội đồng Liên hiệp quốc. Tại thành phố New York, nhóm nghiên cứu Fulbright/Harvard đã có một buổi làm việc với Thủ tướng. Trong buổi làm việc này, Thủ tướng nói rằng, Việt Nam không chỉ muốn thoát nghèo mà còn muốn trở thành một quốc gia phát triển. Để thực hiện được tham vọng này, Việt Nam cần có những nhà hoạch định chính sách am hiểu các cấu trúc và xu thế kinh tế toàn cầu để có thể chèo lái quá trình hội nhập. Thủ tướng đề nghị Harvard tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình nghiên cứu, đào tạo, và thảo luận chính sách. Đây chính là cơ sở cho chương trình đối thoại chính sách giữa Chính phủ Việt Nam và trường đại học Harvard, với đầu mối là bộ Ngoại giao Việt Nam và trường Quản lý nhà nước Kennedy. Ngân sách để xây dựng chương trình đối thoại này do Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tài trợ, kéo dài trong ba năm.
Để đưa ra những bài viết đóng góp chính sách, nhóm nghiên cứu Fulbright/Harvard chắc chắn phải bỏ rất nhiều công sức làm nghiên cứu. Việc thu thập dữ liệu cho những nghiên cứu trên có dễ dàng không, thưa anh?
Việc thu thập số liệu nghiên cứu ở Việt Nam rất khó khăn, ngay cả khi đó là một chương trình đối thoại chính sách với Chính phủ. Nhiều số liệu thống kê của Việt Nam rất khó tiếp cận, không những thế mức độ nhất quán và độ tin cậy cũng không cao. Bên cạnh đó, một vài số liệu tuy có sẵn lại rất ít được công bố (như kết quả kiểm toán các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước chẳng hạn), nếu có công bố cũng chỉ mang tính tổng hợp, chung chung, không dùng để phân tích sâu được. Chúng tôi gọi tình trạng này là “số liệu không có thông tin”. May mắn là chúng tôi có thể truy cập nhiều bộ dữ liệu của IMF, World Bank… trong hệ thống cơ sở dữ liệu đồ sộ của trường Harvard. Trên thực tế, đây chính là những số liệu Việt Nam cung cấp cho các tổ chức quốc tế, nhưng để có được những số liệu này chúng tôi lại phải đi đường vòng.
Lần đầu tiên tôi gặp anh là vào năm 2003. Lúc bấy giờ sinh viên Việt Nam ở vùng học New England đã khá đông đảo và diễn đàn khá xôm tụ. Tôi nhớ là hồi đó anh rất kiệm lời, ít khi tham gia những cuộc thảo luận cũng như những cuộc vui chơi của sinh viên?
Vâng, đó là thời điểm quyết định để tôi hoàn thành luận án tiến sĩ. Trong thời gian đó tôi làm việc với cường độ rất cao và không cho phép mình phân tán tư tưởng.
Anh cũng là một trong những thành viên đầu tiên của diễn đàn Nhà kinh tế trẻ Việt Nam, có đúng không?
Diễn đàn Vietnamese Young Economists (VYE) được hình thành vào đầu năm 2001 dưới dạng một “mailing list” chỉ có khoảng 15 du học sinh thạc sĩ và tiến sĩ kinh tế học. Anh Lê Hồng Giang (hiện làm việc ở Úc) và tôi lập danh sách email đầu tiên đó. Sau này “mailing list” được chuyển thành diễn đàn và từ đó phát triển thành Vietnam Economic Society (VES), một diễn đàn trực tuyến trao đổi các vấn đề học thuật trong kinh tế học, với trên 100 thành viên.
Đa số các tiến sĩ kinh tế, sau khi hoàn thành chương trình ở nước ngoài thường chọn ở lại nước ngoài nghiên cứu, giảng dạy. Tại sao anh lại chọn trở về Việt Nam?
Lúc mới tốt nghiệp, mọi lựa chọn đều mở với tôi, trong đó có cả cơ hội dạy học ở nước ngoài. Chính trong lúc ấy, tôi nhận được lời mời của Chương trình Việt Nam tại đại học Harvard về làm giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP.HCM. Lời mời của trường Fulbright thực sự hấp dẫn tôi. Tôi đã xa Việt Nam gần sáu năm, từ khi chưa có hiểu biết gì đáng kể về xã hội và nền kinh tế nước nhà. Tôi luôn có ước vọng hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước, con người và nền kinh tế của nước mình, và muốn làm được một điều gì đó cho đất nước. Trường Fulbright là lựa chọn có tính tất nhiên.
Nghe nói anh từng thử nghiệm kinh doanh và thất bại? Có phải đó là lý do anh quyết định trở thành nhà kinh tế?
Tôi tốt nghiệp đại học Thương mại Hà Nội năm 1994 và được cô Nguyễn Thị Doan, lúc đó là hiệu trưởng giữ lại làm giảng viên. Ban đầu tôi từ chối vì muốn biết thế giới kinh doanh – thế giới thực chứ không phải thế giới sách vở – như thế nào. Sau hai năm, tự thấy mình không hợp với công việc kinh doanh, tôi trở lại trường và đến 1998 thì đi học nước ngoài.
Lúc mới ra trường, tôi cùng một nhóm năm – sáu người bạn, quyết định góp mỗi người vài triệu đồng lập công ty và cử một người trong nhóm đứng ra quản lý. Công ty này mở được vài tháng thì đóng cửa. Nói chung, tôi tự thấy mình không có khả năng kinh doanh (cười).
Theo nguyên lý của điều khiển học, một hệ thống thiếu thông tin phản hồi có chất lượng sẽ không thể tự hoàn thiện. Khi nền kinh tế của chúng ta ngày càng trở nên phức tạp thì những tiếng nói phản biện có tính xây dựng là rất quan trọng. Cần phải hình thành một lớp học giả có ý kiến độc lập và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.


Như vậy, con đường học thuật luôn luôn là mục đích của anh?
Đúng là như vậy. Gia đình tôi có truyền thống học hành, cả hai bên nội ngoại đều là trí thức. Việc tôi trở lại với con đường học thuật dường như được định sẵn trong gen của gia đình.
Rất nhiều du học sinh, sinh viên Việt Nam đang theo ngành kinh tế học. Trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ có rất nhiều nhà kinh tế học. Anh lý giải chuyện này như thế nào? Lý do nào khiến anh chọn ngành này?
Tôi không rõ du học sinh Việt Nam ở các nước khác thì như thế nào, nhưng những lớp du học sinh Việt Nam đầu tiên sang Mỹ vào những năm 1990 chủ yếu là học khoa học cơ bản, khoa học tự nhiên và công nghệ thông tin. Trong số rất ít người thuộc ngành khoa học xã hội thì ngành học chiếm đa số là kinh tế học. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể một phần là do những lớp sinh viên du học đầu tiên của Việt Nam chưa giỏi ngoại ngữ, vì vậy thường tránh những ngành đòi hỏi cao về khả năng thuyết trình và viết. Mặt khác, so với nhiều nước, sinh viên Việt Nam lại có khả năng vượt trội về toán, mà toán lại là ngôn ngữ của kinh tế học hiện đại, vì thế sinh viên Việt Nam thường có lợi thế cạnh tranh trong việc xin học bổng kinh tế học. Bên cạnh đó, những năm 1990 – 2000 chứng kiến quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam nên việc định hướng học kinh tế cũng là điều dễ hiểu.
Với cá nhân tôi, đi học nước ngoài là để thoả mãn nỗi khát khao trong trường đại học, là muốn học nhiều mà không được. Hồi đó tôi đọc “ngoại kinh” rất nhiều. Thực ra cũng không có nhiều sách nên chủ yếu là đọc sách cổ Trung Quốc như Lão Tử, Tứ thư, Ngũ kinh hay các tiểu thuyết kinh điển của Tàu. Giai đoạn này tôi cũng bắt đầu đọc sách Phật giáo, chủ yếu là thiền tông Trung Hoa và Phật giáo Tây Tạng. Phần “nội kinh” ở trường tôi học chủ yếu có tính chất đối phó, tuy nhiên điểm thi của tôi không bao giờ làm các thầy cô thất vọng. Nghĩ lại giai đoạn đó mới thấy các bạn sinh viên hiện nay may mắn hơn thế hệ chúng tôi nhiều vì dù việc học ở trường có thể không được cải thiện bao nhiêu, nhưng bây giờ internet đã trở thành một “thư viện công cộng” khổng lồ sẵn sàng mở ra với bất kỳ ai biết gõ cửa.
Và kinh nghiệm học hành ở bên Mỹ lại hoàn toàn khác…
Ở Việt Nam, mình học dư sức thì ở Mỹ lại bị quá sức. Giống như một con cá đang ngụp lặn ở một cái ao bỗng nhiên được thả vào đại dương.
Những bài viết, bài trình bày đóng góp chính sách của anh gây được nhiều chú ý. Nhưng một số nhà nghiên cứu kinh tế trẻ khác, cho rằng nhà kinh tế học thực sự phải có những công trình nghiên cứu dày công, đăng trên những tạp chí chuyên ngành lớn ở nước ngoài. Họ cho là anh chưa làm được điều này?
Theo tôi, vấn đề ở đây là ngôn ngữ, mà ngôn ngữ phụ thuộc vào mục đích giao tiếp và sự lựa chọn của người sử dụng. Trên thực tế, ở Việt Nam chưa có một cộng đồng những nhà nghiên cứu kinh tế học có tính kinh viện, và vì vậy ngôn ngữ kinh viện vẫn chưa trở nên phổ biến. Trong bối cảnh này, một nhà kinh tế học dấn thân vào vấn đề chính sách thực tiễn một mặt phải biết dùng những nghiên cứu có tính học thuật làm nền tảng cho những bài phân tích chính sách của mình, đồng thời biết diễn giải những vấn đề kinh tế phức tạp bằng những ngôn từ dung dị để thông điệp chính sách đến được với độc giả. Một nguyên nhân có tính khách quan nữa là như đã trao đổi, số liệu ở Việt Nam không tốt, điều này khiến các nghiên cứu có tính định lượng trở nên hết sức khó khăn, thậm chí là rủi ro vì không biết chắc kết quả nghiên cứu có phản ánh đúng thực tiễn hay không.

Ở một mức độ cơ bản hơn, khi chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường phi tập trung thì các nhà làm chính sách nói riêng và cả xã hội nói chung phải chuyển sang một khung tư duy tương thích. Nhưng khi khung tư duy kinh tế cũ tỏ ra không còn thích hợp thì khung tư duy mới vẫn trong quá trình hình thành. Tôi cho rằng một nhiệm vụ quan trọng của các nhà kinh tế học (cũng như các nhà khoa học xã hội nói chung) ở Việt Nam trong thời kỳ thai nghén, quá độ này là tìm nhiều cách khác nhau để giới thiệu tri thức, tinh hoa của nhân loại cho độc giả trong nước, để từ đó hình thành nên một khung tư duy và hệ thống khái niệm cơ bản, giúp cho quá trình hoạch định các chính sách phát triển được mạch lạc, nhất quán và không lạc hậu so với thế giới. Để thực hiện được điều này, tôi cho rằng ngôn ngữ dung dị thích hợp hơn những mô hình toán học phức tạp.
Chúng tôi được biết chị Trần Quế Giang, bà xã của anh, cũng vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở Pháp?
Vâng, vợ tôi vừa bảo vệ xong luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế – tài chính tại trường Paris Dauphine và hiện nay là đồng nghiệp của tôi ở trường Fulbright. Chúng tôi chia sẻ những mối quan tâm chung về nghề nghiệp, nhưng vợ tôi chủ động lùi lại một bước để dành thời gian cho gia đình, tạo điều kiện để tôi có thể tiến thêm một bước.
Anh có muốn tham gia trực tiếp vào quá trình làm chính sách không?
Tôi cũng đã tự hỏi mình câu này, và câu trả lời vào thời điểm hiện tại là không. Hiện nay ở Việt Nam rất thiếu tiếng nói phản biện chính sách. Theo nguyên lý của điều khiển học, một hệ thống thiếu thông tin phản hồi có chất lượng sẽ không thể tự hoàn thiện. Khi nền kinh tế của chúng ta ngày càng trở nên phức tạp thì những tiếng nói phản biện có tính xây dựng là rất quan trọng. Cần phải hình thành một lớp học giả có ý kiến độc lập và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.
Theo anh, ở Việt Nam đã có nhiều tiếng nói độc lập như vậy chưa?
Không nhiều, và tiếng nói độc lập được lắng nghe thì còn ít hơn nữa. Tôi cho rằng Nhà nước nên chủ động tạo ra một không gian rộng rãi hơn, một môi trường cởi mở hơn để có thể thu được nhiều thông tin phản hồi chất lượng cao hơn, làm cơ sở cho sự điều chỉnh tư duy, mô hình và chính sách phát triển của đất nước.

Vũ Thành Tự Anh

Thực hiện Lan Anh
Chân dung hội hoạ
Hoàng Tường
Chân dung nhiếp ảnh Phan Quang


Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online, ngày 29/08/2009, truy cập từ http://sgtt.vn/Loi-song/Gia-tri-song/56447/“Tieng-noi-doc-lap-duoc-lang-nghe-con-it”.html.

Vẫn nhìn về phía trước

SGTT - Gắn bó lâu năm với môi trường kinh doanh công nghệ cao ở Mỹ, việc anh trở về và thiết kế hậu trường để Intel đầu tư nhà máy ở Việt Nam là một đóng góp đáng kể làm thay đổi cục diện ngành công nghệ thông tin. Bởi thế, tin anh rời Intel khiến nhiều người ngỡ ngàng. Câu chuyện dưới đây hé mở phần nào những giá trị sống mà anh theo đuổi, và coi đó như một lựa chọn sống còn.
Nhắc đến Intel là người ta nhắc đến cái tên Thân Trọng Phúc. Những nỗ lực của riêng anh để kéo tập đoàn Intel vào Việt Nam?

Một mình tôi không thể làm được, mà có sự đóng góp của nhiều người, đặc biệt là ban quản lý Khu công nghệ cao TP.HCM và UBND TP.HCM, bộ Thông tin và truyền thông, bộ Khoa học và công nghệ, chủ tịch HĐQT công ty FPT… Về phía Intel có sự hỗ trợ nhiệt tình của một số lãnh đạo cấp cao, trong đó có bà Charlene Barshefsky, thành viên HĐQT Intel. Bà chính là người đại diện Chính phủ Mỹ ký hợp đồng BTA với Việt Nam nên rất nhiệt tình ủng hộ Việt Nam trong dự án này. Vai trò của tôi chỉ là kết nối sự hỗ trợ của nhiều người, tạo thành tiếng nói có trọng lượng để thuyết phục lãnh đạo Intel đầu tư vào Việt Nam.
Những kiến nghị của riêng anh cho điều hành vĩ mô, để có thể tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành công nghệ thông tin của đất nước?
Biến Việt Nam thành một quốc gia về công nghệ thông tin là nguyện vọng của Chính phủ. Tâm huyết thì có rồi, cái cần là Chính phủ phải thể hiện quyết tâm đó bằng việc coi phát triển công nghệ thông tin là mũi nhọn hàng đầu của nền kinh tế, với những chính sách vững chắc, cụ thể. Theo quan điểm của riêng tôi, có ba điểm quan trọng nhất để công nghệ thông tin phát triển: thứ nhất là kiến thức, sự hiểu biết của giới lãnh đạo về môi trường kinh doanh trong và ngoài nước, để từ đó đưa ra những chính sách hữu hiệu, tạo cơ hội mở rộng thị trường. Trong nhiều quốc gia, khi những ngành chủ chốt phát triển sẽ kéo theo nhiều ngành khác. Thứ hai là Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ cho lĩnh vực truyền thông và tài chính phát triển. Ngành viễn thông của ta hiện vẫn là của Nhà nước, tư nhân hầu như chưa được tham gia vào cuộc chơi, hoặc tham gia nhưng với quy mô còn quá nhỏ. Phải có cơ chế để tư nhân có thể tham gia như mở rộng hơn về đầu tư tài chính để các quỹ có thể nhảy vào. Hiện các công ty kinh doanh trên mô hình internet còn gặp nhiều khó khăn do việc thanh toán, quảng cáo trên internet chưa phát triển. Khi thị trường phát triển, tiền sẽ được bỏ vào nhiều hơn, tạo được nguồn vốn lưu động lớn, có lợi cho tất cả mọi người… Thứ ba là Nhà nước cần có những chính sách giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn lên. Trong thời gian qua, doanh nghiệp vừa và nhỏ rất vất vả trong cuộc cạnh tranh bất bình đẳng với các doanh nghiệp quốc doanh, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Với trọng trách mới tại VinaCapital, anh có nghĩ là sức sáng tạo của mình vẫn tiếp tục được phát huy, như anh đã làm được tại Intel?
Môi trường quỹ đầu tư, nhất là lĩnh vực công nghệ cao cho phép tầm nhìn của một doanh nhân làm trong một lĩnh vực lâu năm như tôi được mở rộng hơn, tiếp xúc với nhiều lĩnh vực mới mẻ hơn như truyền thông, viễn thông, năng lượng sạch, công nghệ xử lý môi trường, công nghệ phát triển sinh vật, phần mềm… Điều đó giúp cho sự sáng tạo linh hoạt hơn, để đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Trong giai đoạn khó khăn này, quỹ đầu tư rất cần người có kinh nghiệm điều hành công ty để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa cấu trúc lại, nên làm gì và phát triển mảng nào. Lẽ dĩ nhiên thử thách cũng nhiều hơn, tôi sẽ phải học hỏi thêm về tài chính, luật pháp… Đó cũng là lý do vì sao tôi rời Intel.
Nhìn về giới trẻ, anh có đặt nhiều niềm tin vào họ? Liệu Việt Nam có thể tạo được những kỳ tích như Ấn Độ và Trung Quốc từng đạt trong ngành công nghệ thông tin?
Việt Nam hầu như có tất cả những yếu tố nội lực giống Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng để làm được như họ cần hai yếu tố cơ bản: thứ nhất là sự hiện diện của các đại học có tầm cỡ quốc tế. Sáng tạo công nghệ sẽ ra đời từ đó. Để nhà máy có thể hoạt động sớm, Intel cũng phải gửi sinh viên đi nước ngoài để đào tạo lại, chi phí rất cao. Trong tương lai không thể tiếp tục như thế. Thứ hai là các ngành công nghiệp hỗ trợ phải cùng phát triển, để chúng ta thoát khỏi tình trạng nhập siêu nguyên vật liệu. Với nhà máy của Intel, dù đã có chính sách hỗ trợ mua sản phẩm vật liệu trong nước nhưng vẫn phải nhập thiết bị nguyên liệu hơn 1 tỉ USD. Sự phát triển công nghiệp nội địa là rất cần thiết.
Cuộc đời anh là một sự học hỏi, tìm kiếm không ngừng. Để làm giàu có hơn những giá trị sống, giá trị nào anh cho là quan trọng nhất?
Tôi đã học được từ sáng lập viên của Intel, cha đẻ phát minh ra bán dẫn Robert Noyce một điều quý giá: “Đừng bao giờ vương vấn bởi lịch sử, hãy bước ra và làm một cái gì đó tuyệt vời hơn”

Là người may mắn được trời phú cho một tư duy luôn nhìn về phía trước, không quá quyến luyến quá khứ, chính điều đó đã giúp tôi suy nghĩ, định hướng về tương lai rất rõ ràng, và không ngại thay đổi. Xa gia đình từ năm 14 tuổi, sang Mỹ một mình, tự học, tự làm, tôi biết sống tự lập từ rất sớm. Trước khi về làm ở Intel của Mỹ, tôi đã thay đổi công việc năm, sáu lần. Quyết định về Việt Nam, khởi động chuyện làm việc với Chính phủ để đưa Intel vào đầu tư tại Việt Nam cũng là một bước mạo hiểm, bởi tôi phải lấy tên tuổi của mình để chịu trách nhiệm với cả hai phía. Bây giờ, khi đa số các quỹ đang tan rã, đứng trước quyết định sống còn, mình lại lao vào chống chọi. Tôi đã học được từ sáng lập viên của Intel, cha đẻ phát minh ra bán dẫn Robert Noyce một điều quý giá: “Đừng bao giờ vương vấn bởi lịch sử, hãy bước ra và làm một cái gì đó tuyệt vời hơn”. Intel không còn gì mới với tôi nữa, không lẽ cứ ngồi đây suốt đời sao? Như thế cũng không công bằng với những người trẻ muốn có cơ hội vươn lên. Tôi nghĩ rất nhiều người ở cương vị như tôi, khi mọi cái đang rất ổn, rất tốt, họ cảm thấy rất chán, nhưng không biết thoát ra như thế nào. Tôi muốn đi ra làm một cái gì đó mới. Nói thì dễ, nhưng làm được thì khó, nhất là với một doanh nghiệp. Alan Kay, người nghĩ ra ý tưởng dùng con chuột điều khiển máy tính từng nói: “Cách tiên đoán tương lai tốt nhất là tự tạo ra tương lai”. Tư duy luôn hướng về phía trước và tự lèo lái hướng đi của mình đã giúp tôi có được những quyết định mạo hiểm để vượt qua một đoạn đường dài, và tôi nghĩ những người trẻ tuổi rất cần suy nghĩ như thế.
Nhưng với những người trong gia đình, anh có gặp trở ngại không để thuyết phục vợ con cùng… mạo hiểm với mình?
Gia đình luôn hỗ trợ tôi trong mọi quyết định. Ý định rời bỏ Intel, nơi đã gắn bó 23 năm qua, tôi đã nói với vợ từ ba năm trước. Quỹ đầu tư sẽ là chặng cuối của tôi, cũng là công việc mạo hiểm nhất trong những mạo hiểm, khi kinh doanh tiền của người khác. Suy nghĩ của tôi là luôn làm những gì trái ngược với người khác. Khi thị trường chạm đáy chính là thời cơ đầu tư tốt nhất.
Anh có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình về sự học, phương pháp tư duy, cách quản trị?
Tôi là người không thích bị ép vào khuôn khổ, sống có lý tưởng, và có năng khiếu làm chính trị gia, nhưng lại dễ xúc cảm khi chạm đến những chuyện liên quan đến tình người, tình dân tộc, hay những mục đích cao cả. Phương châm của tôi là tôn trọng mọi người, luôn đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu họ muốn gì, nghĩ tốt trước khi nghĩ xấu. Người ta thường ví von một cách hình ảnh về ba phương pháp quản lý tiêu biểu: cầm roi đánh, vừa đánh vừa xoa, xoa trước đánh sau. Bản chất của tôi là hảo ngọt, thích cho kẹo, nhưng tôi biết muốn lãnh đạo phải biết vừa đánh vừa xoa, đánh khi cần thiết, cách thể hiện thì mềm mại, nhưng bên trong phải cứng rắn. (Đấy là áp dụng ở công ty thôi, chứ về nhà thì tôi phải… đầu hàng cô con gái hai tuổi. Khi con nhìn ba như vị cứu tinh và muốn đòi gì thì ba không thể từ chối được).
Tôi được biết hơn 40% CEO của Mỹ xuất thân từ kỹ sư, trong ngành công nghệ cao tỷ lệ này chiếm đến 70 – 80%. Học về điện toán điện tử, giỏi toán giống như nhiều người Việt Nam khác, tôi không muốn trở thành một chuyên gia mà đi sâu vào quản lý. Chính tư duy logic của người kỹ sư đã tạo thói quen trong suy nghĩ, giúp tôi rất nhiều trong điều hành công ty. Sự tự học, tự tìm hiểu nhiều lĩnh vực khác, quan sát chuyển động của kinh tế vĩ mô trong sự liên quan với kinh tế thế giới cũng rất cần thiết với một doanh nhân.
Anh đã từng thất bại trong làm ăn lần nào chưa? Anh đã vượt qua nó như thế nào?
Trong một xã hội đang phát triển như Việt Nam, chuyện chạy theo đồng tiền bằng mọi giá đang trở thành một cuộc đua cuốn rất nhiều người vào đó đến mức đánh mất cả cơ hội sống của chính mình. Để có thể chủ động trước đồng tiền, mỗi người nên tự đặt ra cái gì với mình là quan trọng nhất

Trong cuộc đời ai chẳng có thất bại. Kỷ niệm đáng nhớ nhất với tôi liên quan đến đầu tư cá nhân. Khi internet đang ở thời kỳ hoàng kim, giá cổ phiếu của Intel ở Mỹ rất cao, một số người khuyên tôi nên bán để đầu tư vào lĩnh vực khác, nhưng tôi vẫn giữ, để rồi mất một khoản tiền khá lớn vì giá cổ phiếu tụt xuống. Đó là bài học thứ nhất với người chơi cổ phiếu, là phải biết dừng lại đến một mức nào đó mà mình kỳ vọng, thanh toán và đi tiếp. Là con người, luôn phải đối diện với chuyện mất còn trong cuộc sống, mất tiền là cái mất nhẹ nhất. Mất tình mới đau đớn nhất. Nhưng hãy tin rằng thời gian sẽ giúp mình hàn gắn mọi vết thương thể xác và tâm hồn. Mình vẫn phải sống chứ có ai chết đâu.
Là người rất mê âm nhạc, điều đó có giúp anh làm mới mình?
Tuổi thơ của tôi là ở Đà Nẵng, một thành phố biển. Cả nhà tôi đều rất thích biển, và đi nghỉ ngoài biển bất cứ lúc nào có thể. Nghe nhạc nhẹ ngoài bờ biển giúp tôi thư giãn nhiều, thấy lạc quan hơn về cuộc sống. Tôi cũng rất mê vẽ, và hay mơ mộng, có lẽ nhờ thế mà luôn thấy mình mới mẻ.
Anh suy nghĩ thế nào về đồng tiền? Nhìn rộng ra xung quanh, anh có thấy con người hiện đang quá lệ thuộc vào đồng tiền?
Đồng tiền chỉ mang lại sự an toàn, để mình khỏi phải lo lắng, nhưng không nên lệ thuộc vào nó. Tôi thuộc týp người tiêu tiền chứ không phải loại người thích để dành, nhưng tiêu cho người khác nhiều khi hạnh phúc hơn là tiêu cho mình. Trong một xã hội đang phát triển như Việt Nam, chuyện chạy theo đồng tiền bằng mọi giá đang trở thành một cuộc đua cuốn rất nhiều người vào đó đến mức đánh mất cả cơ hội sống của chính mình. Để có thể chủ động trước đồng tiền, mỗi người nên tự đặt ra cái gì với mình là quan trọng nhất.
Sống ở Mỹ suốt thời tuổi trẻ, những khác biệt giữa các nền văn hoá dường như giúp anh có được những hiểu biết tinh tế hơn về chính mình, và về người khác?
Từ nhỏ tôi đã suy nghĩ luôn phải tìm cái gì hay để học và giữ lại những gì hay mình sẵn có, loại trừ những thói quen xấu. Tôi học được ở người phương Tây cách nhìn con người bình đẳng hơn, không phân biệt giai cấp, không phân biệt nam nữ. Phụ nữ Á Đông quá bị thiệt thòi. Trong tình yêu tôi là người tình cảm nhiều hơn lý trí, nên trong mình cũng có những xung đột khi bước vào môi trường kinh doanh, phải cố gắng dung hoà thôi. Tôi làm việc không phải vì tiền, mà vì đam mê làm cái gì đó thật sự khác biệt, để đem lại sự thay đổi tốt đẹp hơn cho những người xung quanh mình. Hạnh phúc nhất của tôi là thấy được sự thay đổi đó, như việc hình thành nhà máy Intel, thấy được nụ cười của một em bé khi nhận được chiếc máy tính…
Có bao giờ anh cảm thấy cô đơn, trống trải, yếu đuối trước con đường mình đã chọn? Anh đã vượt qua nó như thế nào?
Cô đơn thì không, nhưng yếu đuối thì luôn luôn có. Để có thể vững vàng trong cuộc sống, trong mối quan hệ con người, phải trải qua nhiều mất mát lắm. Nỗi mất lớn nhất với tôi là mất cha. Tôi đã học được rất nhiều từ ông nghị lực sống mãnh liệt, để có thể vượt qua bao thăng trầm của thời cuộc.

Thân Trọng Phúc, giám đốc điều hành quỹ đầu tư DFJ thuộc VinaCapital

Thực hiện: Kim Yến
Chân dung hội hoạ: Hoàng Tường

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online, ngày 31/01/2010, truy cập từ http://sgtt.vn/Loi-song/Gia-tri-song/115677/Van-nhin-ve-phia-truoc.html.
Phạm Thanh Nga, phó giám đốc công ty truyền thông Galaxy:
“Là đối tác nhiều năm với Intel, tôi hiểu anh đã phải nỗ lực như thế nào để có được những thông tin mật từ Intel bên Mỹ, tư vấn cho Chính phủ trong những quyết sách, và marketing một cách bài bản về hình ảnh Việt Nam với Intel, qua mặt được hai đối thủ cạnh tranh nặng ký là Trung Quốc và Ấn Độ, để kéo Intel đầu tư nhà máy tại Việt Nam. Hiền hậu, chân thành, tôn trọng và luôn tạo điều kiện cho cấp dưới vươn lên, anh là người sống có tâm với bạn bè và với đất nước”.

Sống để yêu thương

SGTT - Người đảo ngược thế cờ cuộc chiến “đỏ và xanh” (Coca-Cola và Pepsi) tại thị trường Việt Nam, đưa Pepsi “qua mặt” Coca-Cola, liên tục tạo nên những kỳ tích bằng “cách nghĩ toàn cầu, văn hoá Việt Nam”, chính là anh. Việc anh rời PepsiCo, trở thành nhà tư vấn chiến lược cho các công ty Việt Nam ở đoạn cuối của cuộc đời là một lựa chọn đầy thách thức.









Là CEO đầu tiên và lâu dài của tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh ngay sau khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận, 18 năm vượt qua bao giông gió thời mở cửa, đưa đội ngũ hội nhập sâu vào môi trường kinh doanh toàn cầu, anh không chỉ mang về cho PepsiCo những con số ấn tượng, mà sau đó là chuỗi giá trị chuẩn mực trong hành xử của một doanh nghiệp, hướng đến sự phát triển bền vững.
Từng trải qua những ngày cầm chai nước ngọt đi chào hàng để gầy dựng Tribeco, từng có cổ phần lớn trong một số công ty tên tuổi, nhiều bạn bè thắc mắc sao anh không theo đuổi nghiệp làm giàu như các đại gia, mà lại chọn con đường trở thành nhà quản trị, dù sao cũng chỉ là một…giám đốc làm thuê?
Nhiều khi tôi cũng tự hỏi mình như thế, bởi không ít cơ hội để tôi làm giàu, kiếm tiền nhiều hơn. Nhưng tôi không tiếc, có ai muốn kinh doanh chỉ để trở thành trọc phú đâu. Thước đo lợi nhuận tuỳ thuộc vào suy nghĩ, lý tưởng của mỗi người. Ngay từ thời còn trẻ, đang làm bia hơi Hải Âu rất phát đạt, qua Đức, thấy nhà máy của họ hiện đại quá, tôi mơ ước đem về Việt Nam, và gầy dựng Tribeco. Khi đất nước còn cấm vận, bằng mối quan hệ của mình, tôi đã cùng vài người bạn trực tiếp đàm phán không nhờ tư vấn với Coca-Cola trước, để rồi lại chọn Pepsi đưa vào Việt Nam qua liên doanh tay ba SP.CO (Việt Nam, Macondary Company Inc (Singapore) và PepsiCo). Ở tuổi 30, đảm nhận vị trí chủ chốt một doanh nghiệp lớn của Mỹ là tham vọng, thách thức về khả năng. Bản tính tôi là người rất hiếu kỳ, nên lúc nào cũng muốn học, cộng thêm tính tự ái dân tộc, nên muốn làm việc trong môi trường đa quốc gia, để chứng tỏ khả năng của người Việt Nam. Quản trị một số vốn vài tỉ khác biệt nhiều lắm so với vài ngàn tỉ. PepsiCo là môi trường rất tốt để tôi được tiếp xúc với cái mới, hội nhập được với những xu hướng marketing hiện đại từ sớm nhất để xây dựng thương hiệu. Suy nghĩ quốc tế nhưng hành động rất địa phương, thấm nhuần văn hoá Việt Nam, biết gắn bó với cộng đồng, có như vậy mới tạo được sự khác biệt, bền vững. Con người chiến lược trong tôi được hình thành từ tính cách, tri thức, kinh nghiệm, cộng thêm bản tính của một người rất ham hoạt động xã hội… khiến tôi lúc nào cũng muốn dấn thân.
Trong kinh doanh, có bao giờ anh phải tranh cãi quyết liệt để bảo vệ chủ kiến của mình?
Tôi còn nhớ một lần, khi xu hướng khuyến mại trúng thưởng bằng xe máy, xe hơi đang nở rộ, thì miền Trung, miền Nam bị lũ lụt nặng nề. Tôi đã tranh cãi dữ dội để gác bỏ hết các chương trình khuyến mại khác, tập trung PR cho chiến dịch “Uống một lon Pepsi là dành 50 đồng ủng hộ đồng bào lũ lụt”. Rất nhiều người lúc đó nghi ngờ, phản đối quyết liệt, nhưng tôi có niềm tin. Cái được lớn nhất là khách hàng biết Pepsi luôn sống với hơi thở của đồng bào mình, gắn bó với quê hương mình. Chữ “đồng bào” của người Việt mình lớn lắm, tinh thần lá lành đùm lá rách lớn lắm. Đây cũng là một khái niệm hết sức mới mẻ trong marketing. Tôi rất vui là sau khi PepsiCo phát động, phong trào đã trở thành phản ứng dây chuyền, một số công ty khác cũng làm theo. Giá trị vật chất nhỏ thôi nhưng ý nghĩa rất lớn, doanh nghiệp bắt đầu có ý thức cộng đồng mạnh hơn. Một công ty thành công phải là một công dân xã hội tích cực.
Sau 18 năm làm việc tại PepsiCo, anh đã học được điều gì từ những người lãnh đạo tập đoàn, để chinh phục họ, và tạo lập niềm tin?
Đó là tầm nhìn của một công ty đa quốc gia, tính thực tế và những nguyên tắc trong quy trình quản trị để có những quyết định vượt lên chính mình, có thể làm những điều tốt đẹp cho chính tập đoàn, bảo đảm sự phát triển bền vững, sòng phẳng, không bị lay động bởi những yếu tố chủ quan. Ngoài khả năng quản lý, lòng tự trọng của một người Việt Nam mới là cái để người ta quý trọng, anh em đến với mình. Chính lòng tự trọng khiến mình phải học hỏi nhiều hơn, vượt qua thách thức nhiều hơn, để chứng tỏ sự vượt trội trong quản trị. Ngoài việc học hỏi người ta, mình phải có cách đi, cách làm của mình, không để họ coi thường về văn hoá, từ đó mới tạo được giá trị cho công ty.
Ngoài khả năng quản lý, lòng tự trọng của một người Việt Nam mới là cái để người ta quý trọng, anh em đến với mình. Chính lòng tự trọng khiến mình phải học hỏi nhiều hơn, vượt qua thách thức nhiều hơn, để chứng tỏ sự vượt trội trong quản trị.



Trải qua nhiều bước ngoặt, nhiều cuộc chia tay, cuộc chia tay với PepsiCo có khiến anh hụt hẫng không? Là người theo đuổi dài lâu công việc trồng người, vì sao anh không tìm được người Việt Nam kế nhiệm xứng đáng?
Tôi là người luôn nghĩ tới phía trước, ít nuối tiếc, nên không cảm thấy hụt hẫng. Đây là cuộc ra đi mà tôi đã chủ động chuẩn bị chuyển giao từ năm năm nay. Dĩ nhiên buồn man mác, vì không có người Việt kế nhiệm ở PepsiCo. Từ mười năm nay tôi đã có ý định, kế hoạch thực hiện ở mức độ nào đó rồi. Lớp trẻ về khả năng lãnh đạo thì có, nhưng thiếu sự xông pha, dám hy sinh, thoát khỏi những tham vọng thông thường để có tham vọng lớn, và có lẽ do mình không đủ khả năng xây dựng, kiến thiết, lèo lái… Rất đáng tiếc.
Ở tuổi này, sao anh không yên ổn với những công việc kinh doanh của gia đình như làm resort, kinh doanh bất động sản, mà lại tiếp tục dấn thân với GIBC?
Khởi đầu một sự nghiệp mới lúc này, nhiều người cho là tôi… điên! Ước vọng từ lâu của tôi là muốn chia sẻ kinh nghiệm sau nhiều năm làm việc với PepsiCo cho các doanh nghiệp Việt Nam. Quản trị doanh nghiệp với quy mô ngày càng lớn đi kèm với những yêu cầu bức thiết về đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ, đổi mới công nghệ, gia tăng nguồn nhân lực. Nhưng làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam có thể từng bước chuyển mình? Mô hình, cấu trúc nào sẽ góp phần quyết định thắng lợi dài lâu? Tái định hình, tái cấu trúc, tái tổ chức là những đòi hỏi bức thiết. Với sứ mệnh cùng doanh nghiệp kiến tạo sự phát triển và trường tồn, GIBC mong mỏi sát cánh cùng doanh nghiệp Việt Nam để tạo dựng sự nghiệp kinh doanh to lớn hơn, góp phần định hình rõ nét vị trí của Việt Nam trên bản đồ kinh thương thế giới.
Đằng sau những thành công của anh, cũng không ít mất mát, thất bại. Thất bại nào đối với anh là lớn nhất? Anh suy nghĩ gì sau tất cả những mất mát ấy, để cân bằng lại chính mình?
Thất bại thì nhiều, nhưng nghĩ cho cùng tôi không thấy tiếc những gì đã làm. Lao vào kinh doanh khi còn đầu xanh tuổi trẻ, bây giờ nhìn lại, mới thấy mình đi quá nhanh, đôi lúc rất mệt mỏi, chạnh lòng, nhưng chưa bao giờ gục xuống. Tôi chỉ bị “đánh bại” bởi những gì liên quan đến tình cảm, chứ chưa bao giờ ray rứt vì những lao lực trong kinh doanh. Để cân bằng chính mình, tôi tìm đến những tình yêu đích thực, trở về nhà, tìm tới những người bạn thân, hay qua thăm mẹ. Xung quanh mình có nhiều điều tốt, nhiều người tốt lắm… Là người đàn ông quá đam mê công việc, nên tôi có ít thời gian để vun xới, chăm lo cho những người thân yêu, cho gia đình, bè bạn. Tôi thấy mình có lỗi nhiều, nhưng hy vọng có được sự thấu hiểu của người thân về sự dấn thân của mình, về những giá trị mà mình đã mang lại cho cuộc sống. Bạn bè, con cái ngưỡng mộ mình không phải vì mình là chủ tịch PepsiCo, mà sẵn sàng tha thứ cho mình vì những giá trị mà mình đã chia sẻ. Tôi tin thế.
Trong mối quan hệ giữa con người với con người, anh coi trọng điều gì nhất? Có bao giờ anh gặp phải sự phản bội, đổ vỡ niềm tin?
Trong kinh doanh và cả cuộc sống, tôi coi trọng nhất là sự trung thực. Có thể lầm lỗi, thất bại, nhưng nếu sự trung thực hiện hữu thì mình sẵn sàng tha thứ, động viên, tạo cơ hội. Cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn sẻ, có nhiều điều không như mong đợi của mình, có lúc hụt hẫng, thất vọng, nhưng tôi không vì thế mà mất niềm tin. Quan điểm sống của tôi là sống để yêu thương, nhưng nếu yêu thương không đến thì mình ứng xử theo kiểu Trịnh Công Sơn: Tôi ơi, đừng tuyệt vọng. Khi mình sống có niềm tin, sẽ thấy yêu cuộc sống hơn, dễ tha thứ và bao dung hơn với người khác.
Là người sống vì bạn, theo anh gìn giữ được tình bạn tri âm tri kỷ có khó không? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết tặng anh bài hát Sóng về đâu, tình bạn này đã mang lại cho anh điều gì?
Tôi may mắn có nhiều bạn, nhất là bạn bè trong giới nghệ sĩ. Bạn bè là nơi tôi chia sẻ mọi vui buồn, hạnh phúc, giúp tôi vơi đi những đau khổ. Để có được tình bạn tri âm, mình phải gìn giữ và nuôi dưỡng bằng sự chân thành, bằng mối thâm tình. Điều đó không khó, cũng không dễ, tuỳ theo tấm chân tình của mình đối với bạn thôi. Sự chân tình đem đến tình bạn bền vững. Tôi luôn áy náy mỗi khi không gọi điện thoại lại cho một người bạn, không hẹn hò được một buổi cơm tối với con. Bạn bè là nguồn động viên, khích lệ, giúp tôi có trách nhiệm hơn với những điều mà mình theo đuổi.
Người chia sẻ với tôi nhiều nhất trong kinh doanh chính là anh Sơn, mặc dù anh không biết gì về kinh doanh, nhưng triết lý kinh doanh của tôi ảnh hưởng rất nhiều từ triết lý trong âm nhạc của anh Sơn. Anh từng viết biển sóng, biển sóng đừng xô nhau, nơi nào đó có sự giàu có thì nơi khác sẽ có người bị mất đi… Triết lý của anh rất thực tế, đó là luật bù trừ mà. Trong hành xử kinh doanh, nếu không có tâm thì làm sao có thể hạnh phúc. Cuộc đời đầy bất trắc, nhưng mình đừng có hững hờ với cuộc đời, anh Sơn đã nói như thế.
Nhìn rộng ra ngoài xã hội, điều gì làm anh ray rứt nhất khi nghĩ về nhân tình thế thái? Về tình người?
Điều khiến tôi ray rứt nhất không phải là mất tiền, mất sức khoẻ, mà chính là phải chứng kiến những giá trị đạo lý đang bị đảo ngược do mối quan hệ xã hội và cuộc mưu sinh. Ngày càng nhiều những đối xử không công bằng, sự phản bội, khiến cho mối quan hệ con người mất đi sự trong sáng. Tôi thường nói với các bạn trẻ rằng đôi lúc cần thực tế để sống, nhưng đừng nên quá thực dụng để trở thành nô lệ của đồng tiền, để bị rẻ rúng, khiến cho mình mất đi sự cân bằng. Với bạn bè, đến một ngày nào đó mà người ta đến với nhau, giúp nhau như một sự mua bán, thì đó quả thật là một bi kịch.
Anh muốn để lại điều gì cho những đứa con? Truyền thống hiếu học của dòng họ Phạm Phú đã được gìn giữ như thế nào trong gia đình anh?
Chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ để lại cho con vật chất hay sự nghiệp, cũng không có khái niệm phân chia gia tài. Tôi muốn con sống có lý tưởng, biết chia sẻ với mọi người những giá trị sống mà người cha đã đeo đuổi, học hỏi cách đối nhân xử thế, học hỏi về tình yêu con người, để con có thể sống hạnh phúc. Tôi có thể cho con tất cả, nhưng hạnh phúc thì phải tự con tìm kiếm thôi.
Năm nào cũng vậy, gia đình tôi cùng anh em nghệ sĩ và tập thể PepsiCo luôn trở về Quảng Nam để trao tận tay các bé mồ côi cơ nhỡ những món quà nhỏ, dõi theo từng bước đi của các em trên con đường học vấn. Quảng Nam là vùng đất nghèo nhất miền Trung, chịu đựng nhiều nhất những mất mát trong chiến tranh, nhưng con người có ý chí mạnh lắm, sản sinh nhiều nhà trí thức cho đất nước, sống với nhau đùm bọc, nghĩa tình. Tôi muốn các con tôi thấm vào máu những truyền thống đó của quê hương, dòng họ, để biết nhớ về nguồn cội, biết chăm sóc, sống vì mọi người nhiều hơn.

Bà Indra Nooyi, chủ tịch kiêm tổng giám đốc PepsiCo toàn cầu:
“Thực sự từ đáy lòng, tôi luôn mong những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với anh Trai. Trong suốt khoảng thời gian làm việc cùng PepsiCo, anh đã gầy dựng được một công ty phát triển đáng kinh ngạc tại Việt Nam, với doanh thu và biên độ lợi nhuận đáng để tự hào. Anh đã để lại những di sản kế thừa lớn lao cho thế hệ trẻ PepsiCo sau này”.
Ông Manu Anand, tổng giám đốc PepsiCo Đông Nam Á:
“Là một nhà lãnh đạo doanh nghiệp và một người bạn, ông Trai luôn mang đến cái nhìn độc đáo qua những hiểu biết sâu sắc về công việc kinh doanh của PepsiCo tại thị trường địa phương cũng như từ kho kinh nghiệm to lớn của ông. Tôi thường xuyên phải trông cậy vào những lời khuyên và sự tư vấn của ông, cũng như những nhà lãnh đạo khác của PepsiCo, trong quá khứ và hiện tại. Những đóng góp của ông vượt ra ngoài biên giới Việt Nam, không chỉ ở Lào, Campuchia, mà còn Brunei, Singapore và các quần đảo thuộc Thái Bình Dương…”

Cảm ơn anh

Ông Phạm Phú Ngọc Trai, cựu chủ tịch PepsiCo khu vực Đông Dương, chủ tịch công ty tư vấn kinh doanh Hội nhập Toàn cầu (GIBC)

Thực hiện Kim YếnChân dung hội hoạ Hoàng Tường

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online, ngày 05/03/2010, truy cập từ http://sgtt.vn/Loi-song/Gia-tri-song/116534/Song-de-yeu-thuong.html.