Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Mai Linh: Đường nào tái cấu trúc?







mai-linh-duong-nao-tai-cau-truc?

Với số nợ phải trả đến 4.690 tỉ đồng, chỉ sau vài năm làm ăn không hiệu quả, số vốn chủ sở hữu 504 tỉ của Mai Linh chỉ mới đủ trả lãi.





Nợ nần của Mai Linh có lẽ là câu chuyện nổi bật nhất trên báo giới trong những ngày cuối cùng của năm 2012. Đã có rất nhiều bài viết mổ xẻ những vấn đề như Mai Linh thua lỗ do đầu tư vào bất động sản, hay họ đang tính chuyện bán xe để trả nợ cho 800 nhà đầu tư. Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi của tảng băng.


 
Thực tế, Mai Linh rơi vào hoàn cảnh như hiện nay không chỉ do đầu tư đa ngành mà đến từ sai lầm trong cấu trúc cũng như cách vận hành doanh nghiệp. Con số nợ 500 tỉ đồng với 800 nhà đầu tư cũng chỉ là một phần nhỏ bé trong tổng số nợ vô cùng lớn của doanh nghiệp vận tải này. Và một vấn đề khác được đặt ra là có cách nào cứu được Mai Linh hay không.
 
Sai lầm toàn diện
 
Đầu tư đa ngành, đặc biệt là vào bất động sản, được cho là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nợ nần của Mai Linh. Tuy nhiên, theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2011 của Mai Linh, tài sản dài hạn là bất động sản đầu tư chỉ có 194 tỉ đồng. Đầu tư tài chính dài hạn, chủ yếu là vào các công ty liên kết, cũng chỉ 201 tỉ đồng.
 
Đối với một doanh nghiệp có tổng tài sản trên 5.000 tỉ đồng thì đầu tư ngoài ngành chưa đến 500 tỉ là một con số không lớn. Ông Hồ Huy, Chủ tịch Hội Đồng Quản trị Tập đoàn Mai Linh, cũng cho biết 95% tài sản của Mai Linh là dành cho ngành vận tải. Vậy bản chất của vấn đề nằm ở đâu?
 
Sai lầm nằm ở chiến lược kinh doanh và cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp này.
 
Là người dẫn đầu thị trường, Mai Linh chọn chiến lược bao phủ toàn quốc, mở rộng ra các tỉnh thành nhằm đón đầu xu hướng gia tăng nhu cầu đi lại bằng taxi. Đây là chiến lược đúng đắn nhưng theo ông Đỗ Thanh Năm, Chủ tịch Hội Đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Chiến lược Win Win, Mai Linh đã bỏ qua 2 yếu tố quan trọng. Đó là chọn đúng thời gian và khu vực để triển khai.
 
Thực tế nhu cầu đi lại bằng taxi chỉ bùng nổ ở các đô thị lớn và chỉ những khu vực này taxi mới đạt hiệu suất cao. Trong khi đó, tại những tỉnh thành có nhu cầu đi lại thấp Mai Linh vẫn tập trung đầu tư số đầu xe quá mức cần thiết, khiến hiệu suất khai thác taxi thấp dẫn đến thua lỗ.
 
“Công ty mẹ Mai Linh rót vốn vào gần 60 công ty con khắp cả nước, với tổng số vốn hàng ngàn tỉ đồng. Những năm qua các công ty con này chỉ trả cổ tức cho công ty ở mức 3-5%/năm, trong khi lãi suất Mai Linh vay từ người dân lên đến 18-25%/năm. Phần chênh lệch lãi suất này khiến chúng tôi lỗ nặng”, ông Hồ Huy thừa nhận.
 
Chiến lược của Mai Linh còn sai lầm hơn khi tự tay dâng miếng bánh thị phần ở 2 thị trường lớn nhất cho 2 đối thủ, ở TP.HCM là Vinasun và ở Hà Nội là TaXiGroup. Phân tích Vinasun cho thấy, là kẻ đi sau Vinasun đã có chiến lược cạnh tranh rất hợp lý. Đó là phát triển theo kiểu tập trung hóa, khai thác tối đa thị trường tại các đô thị lớn phía Nam có nhu cầu đi lại bằng taxi cao.
 
“Nếu Mai Linh chỉ tập trung vào taxi thì bây giờ chắc sẽ thắng lớn, Vinasun khó có thể theo kịp”, ông Đặng Phước Thành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinasun, thừa nhận.
 
Song song với chiến lược dàn trải, Mai Linh còn mắc sai lầm trong cấu trúc hoạt động doanh nghiệp. Mai Linh tổ chức doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - con theo từng khu vực và các công ty cháu tại từng tỉnh, thành. Thậm chí tại một tỉnh thành còn có nhiều công ty con. Nổi bật là tại TP.HCM, họ có tới 20 công ty con. Cách tổ chức này đã tạo ra bộ máy hành chính cồng kềnh, khó kiểm soát, do bộ phận lao động gián tiếp phình to so với bộ phận lao động trực tiếp là các tài xế. Kết quả là chi phí quản lý hành chính tăng cao, vì công ty thành viên nào cũng cần một phòng nhân sự, một phòng kế toán và nhiều vị trí hành chính khác không trực tiếp tạo ra doanh thu cho tổ chức.
 
Tái cấu trúc: Nan giải tài chính
 
Tái cấu trúc luôn là phương cách được các chuyên gia “khuyên dùng” khi doanh nghiệp gặp sự cố hay khó khăn. Tuy nhiên, tái cơ cấu như thế nào khi sức khỏe đã suy kiệt như Mai Linh là chuyện không dễ dàng.
 
Tái cấu trúc gồm nhiều hoạt động đa dạng, tuy nhiên, có thể chia làm 3 hướng tái cấu trúc cơ bản là tái cấu trúc hoạt động, tái cấu trúc chiến lược và tái cấu trúc tài chính. Trọng tâm của tái cấu trúc hoạt động trước hết đặt vào việc đảm bảo khả năng tồn tại trong ngắn hạn của công ty, bằng cách hành động nhanh chóng nhằm gia tăng lượng tiền mặt và cải thiện kết quả kinh doanh. Trong khi đó, tái cấu trúc chiến lược đòi hỏi sự thay đổi chiến lược kinh doanh và mang tính dài hạn.
 
Theo những thông tin được ông Hồ Huy đưa ra tại buổi họp báo hôm 22.12, Mai Linh đang quyết tâm thực hiện cả tái cấu trúc hoạt động cũng như chiến lược. Cụ thể như công ty con tại các tỉnh sẽ chuyển thành chi nhánh trực thuộc, bán bớt tài sản là bất động sản, sử dụng trụ sở thuê, sắp xếp lại công việc, giúp tiết kiệm chi phí và có nguồn tiền xoay xở trong bối cảnh hiện nay.
 
Ông Huy cũng cho biết sẽ cắt những chuyến vận tải đường dài bị thua lỗ; những chuyến có lãi sẽ chuyển cho nhà đầu tư, cán bộ công nhân viên nhằm thoái vốn để đầu tư cho hoạt động taxi. Hoạt động kinh doanh taxi sẽ được cơ cấu lại theo hướng tập trung vào 2 thị trường trọng yếu là Hà Nội và TP.HCM.
 
Quay lại lĩnh vực taxi có lẽ là giải pháp khả thi nhất, vì thực tế đây là lĩnh vực mạnh nhất và có lãi nhất của Mai Linh. Trong 6 tháng đầu năm 2012, doanh thu từ dịch vụ taxi của công ty này đạt 1.137 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu xấp xỉ 1.500 tỉ đồng, trong khi giá vốn của dịch vụ taxi là 782 tỉ đồng.
 
“Đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải, uy tín và thương hiệu đảm bảo sự sống còn. Mai Linh có thể mất uy tín những lĩnh vực khác nhưng taxi vẫn được người tiêu dùng nghĩ đến. Tôi nghĩ Mai Linh chỉ còn có cửa này”, ông Đỗ Hòa, Tổng Giám Đốc Công ty Tư vấn IME Việt Nam, nhận định.
 
Tuy nhiên, hiện nay các thị trường taxi lớn đều rơi vào tay của Vinasun và việc lấy lại thị phần từ đối thủ này là không dễ. Vinasun đang có rất nhiều thuận lợi, trong khi Mai Linh còn rất nhiều điều phải giải quyết, đặc biệt là câu chuyện tái cấu trúc tài chính.
 
Tái cấu trúc tài chính là việc thực hiện các biện pháp để đẩy lùi tình trạng mất khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng tồn tại của công ty. Mục tiêu tái cấu trúc tài chính trong trung và dài hạn là nhằm thiết lập lại cấu trúc vốn vững chắc và lành mạnh. Đây là điều kiện tiên quyết cho quá trình tái cấu trúc bền vững.
 
Theo ông Đỗ Thanh Năm, năng lực, sự quyết đoán và sẵn sàng cho thay đổi của ban lãnh đạo cấp cao nhất của Mai Linh quyết định 85% cho khả năng tái cấu trúc thành công. Tuy nhiên với vấn đề tài chính, năng lực và sự quyết đoán thôi cũng là chưa đủ.

                        
 
 



   
Chuyện nợ nần của Mai Linh được giới truyền thông khai thác gần đây đều xoay quanh các chủ nợ cá nhân. Khoản nợ này, theo Mai Linh, là khoảng 800 người với 500 tỉ đồng. Tuy nhiên, đây không phải là khoản nợ duy nhất. Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2011, tổng nợ của tập đoàn này lên đến 4.703 tỉ đồng, trong đó nợ ngắn hạn là 2.195 tỉ đồng và dài hạn là 2.507 tỉ đồng. Số nợ này lớn gấp 10 lần vốn chủ sở hữu của Mai Linh (kết thúc năm 2011 vốn chủ sở hữu của Mai Linh là 504 tỉ đồng).
 
Tính đến thời điểm 30.6.2012, trong cơ cấu nguồn vốn gần 5.580 tỉ đồng của Mai Linh, nợ phải trả đã chiếm 4.690 tỉ đồng, tương đương 84%. Chỉ tính riêng khoản vay dài hạn từ ngân hàng con số đã lên đến hơn 830 tỉ đồng, vay ngắn hạn hơn 300 tỉ đồng với lãi suất 17-21%/năm. Chưa kể Mai Linh còn vay tín chấp các đối tượng khác 685 tỉ đồng, lãi suất 18-25%/năm.
 
Với số nợ này thì chỉ sau vài năm làm ăn không hiệu quả, số vốn chủ sở hữu 504 tỉ đồng của Mai Linh chỉ mới đủ trả lãi. Khả năng này là hoàn toàn có thể xảy ra khi trong báo cáo 6 tháng đầu năm 2012, chi phí lãi vay của Mai Linh là hơn 272 tỉ đồng, tương đương 67% lợi nhuận gộp. 6 tháng đầu năm nay, Mai Linh tiếp tục lỗ gần 29 tỉ đồng, lỗ lũy kế của Công ty tiếp tục tăng lên 469 tỉ đồng.
 
Hiện tại, để trả nợ cho các nhà đầu tư cá nhân, Mai Linh đang tính đến việc bán bớt bất động sản và tài sản. Thị trường bất động sản vẫn trong cơn bạo bệnh nên thoái vốn khỏi lĩnh vực này là khó khả thi. Vì vậy, theo kế hoạch, Mai Linh sẽ bán hơn 1.000 xe, giá trị mỗi xe dao động từ 150-400 triệu đồng. Như vậy, tập đoàn này sẽ thu về được 200-300 tỉ đồng. Câu hỏi đặt ra là ai sẽ mua.
 
Trong một lần trả lời phỏng vấn NCĐT mới đây, khi được hỏi Vinasun có chiến lược mua lại Mai Linh hay không, Chủ tịch Vinasun Đặng Phước Thành cho biết, ông sẽ không mua lại doanh nghiệp hay mua lại xe mà chỉ mua thương quyền. “Nếu Mai Linh bán 1.000 thương quyền với giá rẻ thì Vinasun sẽ mua”, ông Thành nói.
 
Giả định như trong trường hợp tốt nhất là Mai Linh có thể bán được xe, bán được đất để trả khoản nợ 500 tỉ đồng thì các khoản nợ còn lại, chủ yếu là với các tổ chức tín dụng, thì sao? Rõ ràng Mai Linh đang hoạt động không hiệu quả, nên khả năng khủng hoảng nợ là hoàn toàn có thể xảy ra.

Cơ cấu lại nợ, chuyển nợ thành vốn góp có lẽ là giải pháp tối ưu cho Mai Linh để tái cấu trúc tài chính, nếu không muốn phải bán công ty. Tuy nhiên, liệu các chủ nợ lớn của Mai Linh là ngân hàng MB và BIDV có chịu tham gia phương án này không là chuyện khác. Không phải ai cũng may mắn như Công ty Cổ phần Thủy sản Bình An khi chủ nợ Habubank đồng ý trở thành cổ đông.
 
 
Đăng Hùng

Nguồn
: Tạp chí Nhịp Cầu Đầu Tư ngày 31/12/2012 truy cập từ http://nhipcaudautu.vn/article.aspx?page=1&id=14880-mai-linh-duong-nao-tai-cau-truc.

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Tản mạn về “chuẩn mực chính tả thống nhất”

Nhân hội thảo quốc gia “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng” do hai trường đại học tại TP.HCM vừa phối hợp tổ chức, xin tản mạn đôi dòng để thấy sự phức tạp trong công việc cần thiết nhưng cũng đầy khó khăn này.
 
Không có quy tắc chính tả nào đúng tuyệt đối

Những quy tắc cho một chuẩn lý tưởng, ở mức độ thứ nhất là những quy tắc tuyệt đối đúng. Ở mức độ thứ hai, những quy tắc được mọi người chấp nhận cũng là chuẩn lý tưởng.
Những quy tắc cho một chuẩn thực tế là những quy tắc đúng cho hầu hết các trường hợp, trừ một số ít ngoại lệ, và được rất nhiều người chấp nhận. Chuẩn thực tế là chuẩn chấp nhận những biến thể. Một từ thuần Việt, một tên riêng, một từ vay mượn đều có thể có những biến thể được coi là chuẩn. Cái sai quen dùng thì được coi là chuẩn trên thực tế.
Quy tắc chính tả do con người đặt ra. Ngôn ngữ luôn luôn biến đổi, không có cách viết nào là cố định, bất di bất dịch. Bởi vậy, dù có những nguyên tắc chính tả tuân theo một hệ thống khoa học chặt chẽ nào chăng nữa thì với thời gian sẽ luôn luôn tồn tại những hiện tượng ngoại lệ không theo lôgích nào cả. Vậy thì liệu có một hệ thống chính tả tuyệt đối đúng làm chuẩn mực được không?
Có nhiều quy luật chi phối chữ viết. Đôi khi, theo luật này lại mâu thuẫn với luật kia. Thế là sinh ra những ngoại lệ.
Quy tắc bỏ dấu thanh điệu xưa nay căn cứ vào ngữ âm: dấu thanh bỏ ở âm chính của vần. Gặp vần có nguyên âm đôi, không có chữ nào mang âm chính nên lại thêm quy tắc cảm tính “dấu thanh điệu bỏ ở vị trí “cân xứng”, “hài hoà”. Thực ra, đây là luật thẩm mỹ – một quy tắc bất thành văn – trong nhận thức về chữ viết của người Việt: “hình chữ phải đẹp”.
Có những trường hợp, tôn trọng quy tắc này lại vi phạm quy tắc kia. Bỏ dấu theo quy tắc ngữ âm, chúng ta viết hoà bình, loá mắt, trắng xoá, sức khoẻ, huỷ hoại, cổ suý, Thuý Kiều… Ấy vậy nhưng trong thâm tâm, nhiều người thích “hình chữ phải đẹp” nên vẫn viết hòa bình, lóa mắt, trắng xóa, sức khỏe, hủy hoại, cổ súy, Thúy Kiều… Vậy là trong những trường hợp trên, không thể có một chuẩn duy nhất, chúng ta chấp nhận có hai biến thể thực tế đều được coi là chuẩn.
Viết i hay y cũng liên quan tới luật thẩm mỹ. Theo quy định của bộ Giáo dục, phải viết kì lạ, lí luận, vật lí, mĩ vị, Nam Kì. Quy định này trái với cách viết trên báo chí thời xưa: Trong Gia Định báo năm 1881, 1882 hay trong Nông Cổ Mín Đàm năm 1902, chúng ta gặp: ký tên, thơ ký, trong kỳ 15 ngày, xem kỹ, Nam-Kỳ, kỳ nhứt, anh lấy làm kỳ, Lý văn Ngọc, chánh lý, chưởng lý, mạng lý, có lý lắm, làng Bình-hy…
“Hình chữ phải đẹp” trong thâm tâm người Việt là cần cân đối về độ cao giữa các con chữ trong một từ. Đại để là trong một từ, nếu con chữ một phụ âm đứng cạnh i nhô cao lên thì ta viết y nhằm tạo hài hoà trên dưới. Nhiều người thường “phá rào” ở quy định này. Viết lý thì phần trên và phần dưới chữ này cân đối với nhau, còn viết lí thì phần dưới chữ hơi bị hẫng. Và người ta viết quản lý, lý luận, lý lịch, vật lý, kỹ thuật, Hoa Kỳ... Những con chữ phụ âm nào cùng độ cao đứng trước i thì có khuynh hướng dùng i: si mê, mị dân, chim ri, rên rỉ, xanh rì, vi phạm, vì sao, vị trí…
Điều thú vị là viết nước Mỹ vẫn theo đúng luật thẩm mỹ: chữ M (viết hoa) nhô cao hơn chữ i nên không viết nước Mĩ.
 
Viết tên riêng nước ngoài thế nào?
Mỗi quốc gia ghi tên riêng theo hệ chữ viết của mình. Một tên riêng có nhiều biến thể, những biến thể lịch sử và những biến thể do quy luật tiết kiệm nội tại của ngôn ngữ. Nghĩa là không có một tên riêng duy nhất chuẩn.
Tên riêng nước ngoài nhập vào tiếng Việt trước hết qua tiếng Trung Quốc và được viết có dấu nối: Anh-Cát-Lợi, Ba-Lê, Luân-Đôn, Hoa-Thịnh-Đốn… Sau đó những dấu nối được bỏ đi.
Chịu ảnh hưởng của tiếng Pháp, tiếp đến là tiếng Anh, nhiều tên được chuyển lại theo cách đọc Pháp, rồi cách đọc Anh hoặc trở lại nguyên gốc: Pari, Oa sinh tơn. Nhưng vẫn gọi Luân Đôn vì âm khá gần với âm gốc London.
Do nguyên lý tiết kiệm trong ngôn ngữ, nhiều tên riêng tự động được rút gọn thành những tên một âm tiết nghe rất Việt Nam: Anh, Úc, Ý, Áo, Mỹ… Báo chí thường viết “HLV người Bồ Calisto” chứ ít viết “HLV người Bồ Đào Nha Calisto”.
 
Phiên âm hay giữ nguyên dạng?
Mỗi quốc gia ghi tên riêng theo hệ chữ viết của mình. Một tên riêng có nhiều biến thể, những biến thể lịch sử và những biến thể do quy luật tiết kiệm nội tại của ngôn ngữ. Nghĩa là không có một tên riêng duy nhất chuẩn.
Theo quan điểm phiên âm, sẽ gặp nhiều trở ngại. Có những từ nước ngoài phiên âm thế nào cũng dẫn tới cách đọc không đúng như từ gốc. Trong “hiệp định Genève”, nên phiên âm từ Genève thế nào: Giơ-ne, Giơ-ne-vơ hay Giơ-neo? Theo cách nào thì cũng đọc nhấn mạnh âm tiết đứng cuối ne, vơ, neo, nghe rất kỳ. Tiếng Việt thiếu nhiều vần có trong các thứ tiếng khác nên rất nhiều từ không thể có phiên âm chuẩn.
Nhiều tên riêng chứa đựng ý nghĩa, nếu phiên âm sẽ xoá đi nghĩa có trong nguyên ngữ. Ví dụ: “Khi còn cầm quyền, Tổng thống Pháp Sarkozy và bà Merkel đã hình thành liên minh “Merkozy” (báo Tuổi Trẻ, 8.5.2012). Phiên âm thế nào cái tên “Merkozy” (lấy phần đầu tên nữ Thủ tướng Đức Merkel nhập vào phần cuối tên ông Sarkozy) trong câu trên để nói được rằng đây là liên minh của hai chính khách trên?
Nguyên tắc cơ bản của việc viết tên riêng nước ngoài theo hệ chữ Latinh là phải viết đúng tới mức tối đa theo mặt chữ như nó vốn có.
Vậy còn tên riêng Trung Quốc thì sao? Đầu óc tôn ti của người Việt dẫn tới những mâu thuẫn khi viết tên riêng Trung Quốc. Trước đây bất kể tốt xấu, cao thấp, cứ tên riêng Trung Quốc là được phiên âm theo cách đọc Hán Việt: Bắc Kinh, Khổng Tử, Tôn Trung Sơn, “cầu thủ bóng bàn có quái chiêu Trương Nhiếp Lâm”… Trong sâu thẳm tâm thức, người Việt cảm nhận sự gần gũi thân thuộc khi đọc một tên Hán – Việt. Trong vòng mươi lăm năm gần đây, theo thông lệ quốc tế, tên riêng của người Trung Quốc hạng “bình dân” dần dần được viết bằng chữ Latinh và phiên theo âm Bắc Kinh. Tên của những nhà vô địch bóng bàn thế giới đã được viết là Kum Pu Ru, Wang Hao chứ không còn mấy ai viết là Khổng Lệnh Huy hay Quang Hạo. Đó là sự hội nhập quốc tế tích cực. Tuy nhiên, với đầu óc tôn ti người Việt vẫn gọi những người đứng đầu Trung Quốc theo tên Hán – Việt: Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình… Vậy là thiếu nhất quán. Hai tên này nên phiên là Hú Jǐntāo, Xí Jìnpíng.
 
GS.TS Nguyễn Đức Dân
 
Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online, ngày 27/12/2012, truy cập từ http://sgtt.vn/Khoa-giao/173692/Tan-man-ve-“chuan-muc-chinh-ta-thong-nhat”.html.

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Cảnh giác với “bác sĩ Google”!

SGTT.VN - Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, xu hướng tìm kiếm thông tin sức khoẻ trên mạng ngày một phổ biến. Đối với không ít người, nếu có vấn đề về sức khoẻ chẳng cần đi khám bác sĩ cho mất thời gian, chỉ việc lên Google gõ vài từ khoá là có thể tự chẩn đoán rồi mua thuốc uống là xong!

25% phụ nữ Anh chẩn bệnh sai vì internet
Một khảo sát của trung tâm nghiên cứu Pew (Hoa Kỳ) vào năm 2010 cho thấy khi có vấn đề về sức khoẻ, ngoài việc tìm đến bác sĩ, người dân Mỹ còn lên mạng tra cứu thông tin và tìm lời khuyên từ những người có hoàn cảnh như mình. Trong số những người lớn sử dụng internet, 66% cho biết họ tìm kiếm thông tin về một bệnh đặc biệt nào đó, 56% tìm thông tin về điều trị, 19% tìm thông tin về thai kỳ hay sanh con, 14% muốn biết cách sống chung với những cơn đau nhức mạn tính.
Không chỉ dân Mỹ mà dân Anh – đặc biệt nữ giới – cũng thích tìm “bác sĩ Google” khi có chuyện. Một khảo sát trong năm nay cho thấy, mỗi khi có vấn đề sức khoẻ không giải thích được, phần lớn phụ nữ Anh nhanh chóng lên mạng tìm câu trả lời thay vì đi gặp bác sĩ. Mười triệu chứng hay vấn đề sức khoẻ mà họ quan tâm nhất là: khó ngủ, nhức đầu, trầm cảm, lo lắng, đau cứng cơ, co thắt dạ dày, đau cơ mạn tính, mệt mỏi nghiêm trọng, ngứa ngáy và nhạy cảm da. Tìm thông tin xong, họ tự… chẩn bệnh cho mình.
Thế nhưng, qua khảo sát 1.000 phụ nữ Anh thường làm điều trên, người ta thấy 25% trong số đó chẩn bệnh sai bét! Mười căn bệnh mà họ thường chẩn đoán sai sau khi tra cứu trên internet là ung thư vú, các căn bệnh ung thư khác, chứng lở miệng, cao huyết áp, hen suyễn, thấp khớp, trầm cảm, tiểu đường, rối loạn sức khoẻ tình dục và các bệnh về tuyến giáp. Không khó hiểu khi phụ nữ thích nhờ cậy “bác sĩ Google” vì 75% số người được hỏi cho rằng họ dễ giãi bày hơn so với khi chia sẻ với bạn bè hay người thân.
Tuy nhiên, sự đời nào đơn giản, nếu Google thay được bác sĩ thì ngành y đã dẹp tiệm. Do chẩn bệnh sai, nhiều phụ nữ đã sống nhiều ngày trong sợ hãi, lo lắng trước khi nói với một ai đó, thậm chí có đến 5% người được hỏi đã đau khổ nhiều năm liền vì tưởng mình bị bệnh thật sự! BS Laurence Buckman, chủ tịch uỷ ban Bác sĩ đa khoa hiệp hội Y khoa Anh quốc, cảnh báo: “Nếu tra Google, bạn sẽ được một loạt câu trả lời khác nhau, nhưng không ít trong số đó là rác rưởi. Nếu bạn thấy có gì đó trong ngực và nghĩ rằng mình đang bị đau tim thì có lẽ bạn… chẳng bị gì cả!”
Chỉ 39% trang tra cứu cho thông tin nhi khoa chính xác
Năm 2009, một nhóm nghiên cứu của khoa nhi đại học Nottingham (Anh quốc) đã thử đánh giá độ tin cậy và chính xác của thông tin y khoa trên một loạt website bằng cách sử dụng công cụ tìm kiếm Google. Kết quả cho thấy chỉ 39% trong số 500 website tìm kiếm cho thông tin chính xác, 11% cung cấp thông tin sai và 49% không đưa ra được câu trả lời. Trong số các website trả lời được cho độc giả, 78% có thông tin chính xác, nhưng tính chính xác cũng tuỳ theo chủ đề hỏi, thay đổi từ 51% (hỏi về bệnh bạch hầu, sởi, rubella và tự kỷ) và 100% (cho con bú khi bị viêm vú/tư thế ngủ của trẻ).
Khi tra cứu thông tin sức khoẻ trên internet, người ta thường tự chẩn đoán mình có khả năng mắc một bệnh nặng vì chủ yếu dựa vào triệu chứng đang có hơn là tỷ lệ bệnh thật sự có trong cộng đồng.
Vì sao thông tin sức khoẻ trên mạng thường không chính xác? Người ta lý giải vì chúng được cung cấp bởi những “bác sĩ” ảo hoặc đơn giản đó chỉ là kinh nghiệm cá nhân và được cóp nhặt, lan truyền từ website này sang website khác. Một khảo sát của Eric Horvitz và Ryen White thuộc bộ phận nghiên cứu Microsoft cho thấy 25% kết quả cung cấp bởi internet sau khi tra từ “nhức đầu” đã chỉ ra u não là nguyên nhân – cao đáng kể so với tỷ lệ u não thật sự, chỉ vài người bị trong 50.000 người. Horvitz nói: “Vấn đề ở đây là sự thiên lệch. Không thông tin nào cho rằng việc ngừng uống càphê dẫn đến nhức đầu mà cứ hướng đến u não vì nguyên nhân sau “hấp dẫn” hơn”.
Sự thiên lệch không chỉ đến từ “bác sĩ Google”, mà còn đến từ chính người tra cứu thông tin sức khoẻ. Trong năm nay, hai tác giả Dengfeng Yan và Jaideep Sengupta thuộc đại học Khoa học và công nghệ Hong Kong đã đề xuất lý thuyết “tự dương tính” và “tự âm tính” trên cơ sở cho rằng yếu tố tâm lý, hay đúng hơn là ảnh hưởng của “tỷ lệ cơ bản” và “thông tin ca bệnh”, ảnh hưởng đến nhận thức về sức khoẻ của mỗi người. “Tỷ lệ cơ bản” là tỷ lệ bệnh trong cộng đồng, còn “thông tin ca bệnh” là triệu chứng của một bệnh cụ thể nào đó. Lý thuyết của các tác giả này là mỗi khi chẩn bệnh cho mình, người ta thường dựa nhiều vào “thông tin ca bệnh” hơn là “tỷ lệ cơ bản”; ngược lại, khi chẩn bệnh cho người khác, “tỷ lệ cơ bản” có ảnh hưởng mạnh hơn “thông tin ca bệnh”.
Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra sự thiên lệch khi cho hàng trăm người đánh giá về thông tin các bệnh cúm, viêm gan siêu vi C, ung thư vú, HIV và loãng xương. Một số người tham dự được đề nghị đánh giá mình có bệnh hay không, một số khác lại đánh giá người khác có bệnh hay không. Sau khi phân tích kết quả, người ta thấy khoảng cách tâm lý đã quyết định mọi chuyện: người nào càng biết ít về người được đánh giá thì họ càng dựa vào “tỷ lệ cơ bản”; ngược lại, càng biết nhiều về người đánh giá, họ càng dựa vào “thông tin ca bệnh”.
Do yếu tố tâm lý tác động như thế, nên khi tra cứu thông tin sức khoẻ trên internet, người ta thường tự chẩn đoán mình có khả năng mắc một bệnh nặng vì chủ yếu dựa vào triệu chứng đang có hơn là tỷ lệ bệnh thật sự có trong cộng đồng. Nếu tôi bị “khó tiêu”, tôi cho rằng tôi có thể bị “nhồi máu cơ tim”, nhưng nếu triệu chứng đó xuất hiện ở người khác, tôi cho rằng đó chỉ là “khó tiêu”. Với sự thiên lệch như thế, rõ ràng sự tự chẩn đoán bệnh thông qua “bác sĩ Google” thật sự quá nguy hiểm. Để giải quyết, các nhà nghiên cứu khuyên người ta nên tìm đến một bác sĩ thật để khám bệnh, bởi chỉ có bác sĩ thật mới nhìn bệnh nhân với một khoảng cách thật!
Phan Sơn
Biết tin vào website nào?
Theo một nhóm nghiên cứu của đại học Stanford (Hoa Kỳ), một website cung cấp thông tin khoa học đáng tin cậy phải có bảy tiêu chí sau:
1. Đằng sau là một tổ chức khoa học uy tín (có tên tuổi, địa chỉ, thông tin cụ thể).
2. Dễ sử dụng, có dữ liệu đầy đủ.
3. Có dấu ấn chuyên môn cao (chẳng hạn thông tin có nguồn tham khảo rõ ràng, người viết đáng tin cậy).
4. Có dấu ấn của sự đáng tin (chẳng hạn website cung cấp đường dẫn đến những thông tin bên ngoài để người đọc tham khảo).
5. Website có dấu ấn của người từng sử dụng trước đó.
6. Không đặt nặng tính thương mại (trên website có quảng cáo, nhưng không lạm dụng).
7. Có tính chuyên nghiệp (chẳng hạn không viết sai chính tả).

Nguồn: BÁO ĐIỆN TỬ SÀI GÒN TIẾP THỊ MEDIA ngày 20/12/2012 truy cập từ http://sgtt.vn/Khoe-va-Vui/173457/Canh-giac-voi-“bac-si-Google”.html.