Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Giới thiệu chung về Hiệp định TPP

Lịch sử hình thành Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương. Do lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4. Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chi-lê, Niu Di-lân và Xinh-ga-po (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mê-hi-cô. Tháng 4 năm 2005, Bru-nei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4.


Lịch sử hình thành
 
Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương. Do lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4.
 
Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chi-lê, Niu Di-lân và Xinh-ga-po (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mê-hi-cô. Tháng 4 năm 2005, Bru-nei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4.
 
Đây là Hiệp định mang tính "mở". Tuy không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổ APEC nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm. Xinh-ga-po đã nhiều lần thể hiện mong muốn mở rộng TPP và sử dụng TPP như một công cụ để hiện thực hóa ý tưởng về Khu vực Mậu dịch Tự do Châu Á-Thái Bình Dương của APEC (FTAAP).
 
 
Các nội dung chính của Hiệp định TPP – P4
 
Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động.
 
Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký 02 văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 02 năm kể từ khi P4 chính thức có hiệu lực (tức là từ tháng 3 năm 2008).
 
Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa. Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực.
 
Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn-bỏ. Theo đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục loại trừ.
 
 
Hiệp định TPP mở rộng và sự tham gia của Việt Nam
 
Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo đó, tháng 11 năm 2008, Úc và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố việc tham gia của Úc và Pê-ru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra cho đến nay.
 
Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Xinh-ga-po đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia TPP - P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này của Xinh-ga-po.
 
Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP, và trước khi tuyên bố tham gia TPP, Mỹ đã mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã cân nhắc lại việc tham gia hay không tham gia TPP.
 
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết. Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP. Trước đó, tháng 10 năm 2010, Ma-lai-xia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước.
 
 
Hiệp định TPP và quá trình đàm phán
 
Hiệp định TPP hiện nay được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21. Phạm vi của Hiệp định sẽ bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, trong đó có nhiều lĩnh vực mới như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quan đến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v…
 
Cho tới nay, Hiệp định TPP đã trải qua 7 vòng đàm phán, lần lượt được tổ chức tại các quốc gia thành viên là Úc (vào tháng 3 năm 2010), Hoa Kỳ (tháng 6 năm 2010), Bru-nây (tháng 10 năm 2010), Niu-di-lân (tháng 12 năm 2010), Chi-lê (tháng 2 năm 2011), Xinh-ga-po (tháng 3 năm 2011) và Việt Nam (tháng 6 năm 2011).
 
Về nội dung đàm phán, hiện hơn 20 nhóm đàm phán đã bước vào giai đoạn thảo luận thực chất trên cơ sở các đề xuất và văn bản thể hiện quan điểm của mỗi quốc gia thành viên trong từng lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi của Hiệp định. Một số nhóm đã đạt được những tiến bộ nhất định trong việc thu hẹp khoảng cách về quan điểm trong các lĩnh vực như mở cửa thị trường đối với hàng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư,v.v...
 
 
Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong các FTA trên, các quốc gia thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành viên, nâng cao sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên.
 
 
Với mục tiêu duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạp thêm thành viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ lực đưa ra nhiều đề xuất và biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những nước đang và sẽ tham gia Hiệp định.
Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTA truyền thống trước đây là sự tham gia của các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội. Tại mỗi phiên đàm phán, các đối tượng trên luôn được tạo cơ hội để trao đổi thông tin cũng như bày tỏ quan điểm và nguyện vọng đối với các nội dung đàm phán của Hiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn dành cho các đối tượng liên quan được tổ chức bên lề các phiên đàm phán.
 
 
Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP
 
 
Những cơ hội khi tham gia Hiệp định TPP
 
- Hội nhập khu vực đang nổi lên đóng vai trò chủ đạo với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, đặc biệt là tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Xu thế này không chỉ phản ánh sự mưu cầu lợi ích kinh tế mà còn phản ánh cục diện chính trị quốc tế mới, sau sự nổi lên nhanh chóng của một số nước đang phát triển hàng đầu. Tham gia vào Hiệp định TPP, một cấu trúc quan trọng của khu vực, sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình tái cấu trúc cục diện quốc tế và khu vực cũng như xu thế hội nhập kinh tế khu vực đem lại.
 
- Tham gia Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
 
- Thông qua Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ có cơ hội đàm phán để Hoa Kỳ mở cửa thị trường cho hàng hóa của Việt Nam, tạo cú hích mạnh để thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Bên cạnh đó, việc tham gia Hiệp định TPP sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa đầu tư của Hoa Kỳ và các nước vào Việt Nam.
 
Những thách thức khi tham gia Hiệp định TPP
 
- Việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuôn khổ đàm phán Hiệp định TPP sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ, đặc biệt là sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp của Việt Nam, vốn còn yếu, khả năng quản lý còn nhiều bất cập. Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn. Tuy nhiên, đây là con đường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi qua để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.
 
- Tham gia Hiệp định TPP có thể gây ra một số hệ quả xã hội tiêu cực như tình trạng phá sản và thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu. Ngoài ra, kết quả đàm phán nội dung lao động trong Hiệp định TPP có thể sẽ có tác động tới môi trường lao động ở Việt Nam.
 
- Để thực thi cam kết trong Hiệp định TPP, Việt Nam có thể sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ… Với những kinh nghiệm có được từ quá trình đàm phán gia nhập WTO, đây có thể không phải là một thách thức quá lớn đối với Việt Nam.
 


Theo NCIEC, MUTRAP
 

Nguồn: Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao truy cập ngày 31/07/2014 từ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns110923115344.

80% CPU Intel trên thế giới sẽ sản xuất tại Việt Nam








Bà Sherry Boger, Tổng giám đốc Intel Products Việt Nam giới thiệu CPU đầu tiên được sản xuất tại Nhà máy Intel đặt tại Khu công nghệ cao TPHCM -Ảnh: Hùng Lê
(TBKTSG Online) - Ngày 29-7, Công ty Intel Products Việt Nam công bố lần đầu tiên sản xuất bộ vi xử lý (CPU) tại nhà máy lắp ráp và kiểm định chíp của công ty tại TPHCM và dự kiến 80% sản lượng CPU của Intel trên thế giới sẽ sản xuất tại đây vào giờ này năm sau.
 
Bà Sherry Boger, Tổng giám đốc Intel Products Việt Nam cho biết như trên tại buổi giới thiệu sản phẩm CPU tại nhà máy của công ty đặt tại Khu công nghệ cao TPHCM (SHTP).

Theo bà Boger, sản phẩm CPU này thuộc dòng Haswell - Intel Core thế hệ thứ 4 - bộ vi xử lý thuộc thế hệ mới và hiện đại hiện nay của Tập đoàn Intel dùng cho PC (máy tính cá nhân gồm máy tính để bàn và laptop).

Theo ông Lau Chze Tat, Giám đốc Nhà máy Intel Products Việt Nam, quá trình triển khai sản xuất bộ vi xử lý Haswell đã diễn ra trong hai tháng, từ đào tạo ban đầu cho đến cung cấp sản phẩm cuối cùng.

Thế hệ vi xử lí thứ Core i thứ 4 của Intel tên Haswell được công bố tăng 15% về tốc độ xử lí. Điều tuyệt vời hơn ở Haswell là nó còn được tăng cường khả năng xử lí đồ họa, giảm tiêu thụ năng lượng...
Để làm ra sản phẩm này nhà máy Intel ở Việt Nam phải cho nhập 71 máy và thiết bị chuyên dùng từ các nhà máy của Intel ở Malaysia và Costa Rica cũng như đưa 105 kỹ sư Việt Nam đi đào tạo học tập kinh nghiệm tại nhà máy Intel ở Malaysia. Theo kế hoạch sắp tới, nhà máy Intel Việt Nam sẽ nhập khẩu thêm 159 máy móc thiết bị chuyên dùng để sản xuất dòng sản phẩm này.

Tổng Giám đốc Intel Products Việt Nam cho rằng nhà máy của Intel tại SHTP đang đi đúng lộ trình và nhiệm vụ đã đề ra ban đầu: đầu tiên là sản xuất chipset di động dành cho máy tính xách tay và các thiết bị di động, sau đó là sản phẩm Atom SoC (System on a Chip) vào cuối tháng 12 năm 2013, và bây giờ là sản phẩm CPU Haswell. Việc này sẽ góp phần nâng cao năng lực lắp ráp và kiểm định của Intel trên toàn cầu.

Theo bà Boger việc tập đoàn Intel chọn nhà máy Intel Việt Nam sản xuất lắp ráp dòng sản Haswell - Intel Core này vì đây là nhà máy lớn nhất của Intel trên thế giới. Mặt khác, sau khoảng 4 năm hoạt động sản phẩm làm ra tại nhà máy này ít bị hỏng nhất so với các nhà máy khác của Intel. Hầu như sản phẩm làm ra tại nhà máy Intel ở SHTP không bị hỏng.

Theo Phó Chủ tịch UBND TPHCM Lê Mạnh Hà, việc Intel Việt Nam sản xuất thành công sản phẩm CPU Haswell sẽ tác động mạnh đến các ngành công nghệ ở Việt Nam; đồng thời cho thấy Việt Nam có thể lĩnh hội và chiếm lĩnh các công nghệ tiên tiến của thế giới.

Năm ngoái kim ngạch xuất khẩu của Intel Việt Nam đạt hơn 1,8 tỉ đô la Mỹ. Với việc đưa dòng sản phẩm mới có giá trị cao hơn này ra thị trường đang được kỳ vọng sẽ mang về giá trị xuất khẩu cao hơn trong thời gian tới.

Tập đoàn Intel công bố kế hoạch đầu tư 1 tỉ đô la Mỹ vào nhà máy lắp ráp và kiểm tra linh kiện bán dẫn đặt tại khu công nghệ cao TPHCM vào năm 2006. Theo bà Boger, hiện nay Intel đã giải ngân được khoảng 45% tổng vốn đầu tư và kế hoạch đầu tư đang đúng theo lộ trình đề ra.

Nhiều ý kiến cho rằng nhà máy Intel ở Việt Nam làm công đoạn cuối, không mang lại giá trị gia tăng cao trong sản phẩm và các công đoạn sản xuất cũng đơn giản. Tuy nhiên theo Intel Products Việt Nam, lắp ráp và kiểm định được xem là một phần quan trọng của quy trình sản xuất trong nhà máy bán dẫn của Intel. Đó là bước cuối cùng trong sản xuất các sản phẩm silicon của Intel để sẵn sàng đưa các sản phẩm đến với khách hàng trên toàn thế giới. Quy trình xử lý bộ vi xử lý sản phẩm tại đây đòi hỏi người lao động kỹ năng và những kỹ thuật sản xuất không đơn giản.

Tính đến cuối tháng 6-2014,nhà máy Intel tại Việt Nam đã tạo hơn 1.000 công việc trong ngành công nghệ cao, và thu hút được 80 nhà cung cấp, trong đó có nhà cung cấp Việt Nam.

Hiện nhà máy Intel Việt Nam đã ngưng lắp ráp và sản xuất chipset di động Intel. Tuy nhiên, khả năng nhà máy này sẽ sản xuất sản phẩm Skylake - là nền tảng 2015 nối tiếp nền tảng Haswell / Broadwell trong năm 2014 của Intel, bao gồm nhiều cải tiến mới.
Hùng Lê

Nguồn:  "Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online" ngày 29/07/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/118178/80-CPU-Intel-tren-the-gioi-se-san-xuat-tai-Viet-Nam.html.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Nửa đầu năm 2014: GDP tăng cao nhất trong ba năm









Khu vực doanh nghiệp FDI và ngành sản xuất công nghiệp điện tử là những điểm sáng trong hoạt động kinh tế 6 tháng đầu năm nay. Ảnh TL SGT
 
(TBKTSG Online) - Hôm nay 27-6, Tổng cục Thống kê đã công bố báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2014; theo đó tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 5,18%, cao hơn nửa đầu năm 2013 và 2012.
 
Theo nhận định của Tổng cục Thống kê, "Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm nay diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp cả về kinh tế và chính trị... Trong đó, đáng chú ý là quá trình tái cơ cấu kinh tế diễn ra thiếu đồng bộ và chưa thực sự có những bước đi hiệu quả. Ngoài ra, thời gian gần đây tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, bước đầu ảnh hưởng đến động thái phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước."
 
 
Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội tóm tắt như sau:
 
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) so với cùng kỳ năm ngoái là 5,18%. Đây cũng là mức tăng GDP nửa đầu năm cao nhất trong ba năm gần đây (nửa đầu năm 2013 tăng 4,93%, năm 2013 tăng 4,90%).
 
Trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,33%; khu vực dịch vụ tăng 6,01%.
 
- Cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay vẫn theo hướng tích cực. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,69%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,70%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 18,18%; 38,70%; 43,12%).
 
- Về hoạt động của doanh nghiệp: Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có 37315 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 230,9 nghìn tỉ đồng, giảm 4,1% về số doanh nghiệp đăng ký thành lập và tăng 19,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013.
 
Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động có đăng ký hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký là 33454 doanh nghiệp, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp rơi vào tình trạng ngừng hoạt động nay quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm là 8322 doanh nghiệp, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm 2013.
 
- Về đầu tư phát triển: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 502,5 nghìn tỉ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 30,1% GDP.
 
Số vốn đầu tư này bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 198,2 nghìn tỉ đồng, chiếm 39,5% tổng vốn và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 178 nghìn tỉ đồng, chiếm 35,4% và tăng 7,9%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 126,3 nghìn tỉ đồng, chiếm 25,1% và tăng 6,5%.
 
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng ước tính đạt 90 nghìn tỉ đồng, bằng 48,6% kế hoạch năm và tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2013.
 
- Về thu chi ngân sách Nhà nước: Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-6-2014 ước đạt 376,9 nghìn tỉ đồng, bằng 48,2% dự toán năm; trong đó thu nội địa 256,7 nghìn tỉ đồng, bằng 47,6%; thu từ dầu thô 48,3 nghìn tỉ đồng, bằng 56,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 70,5 nghìn tỉ đồng, bằng 45,8%.
 
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-6-2014 ước tính đạt 449,4 nghìn tỉ đồng, bằng 44,6% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 72,6 nghìn tỉ đồng, bằng 44,5% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 70 nghìn tỉ đồng, bằng 44,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 321,7 nghìn tỉ đồng, bằng 45,7%; chi trả nợ và viện trợ 55,1 nghìn tỉ đồng, bằng 45,9%.
 
- Về xuất nhập khẩu: Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 70,9 tỉ đô la Mỹ, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 23,1 tỉ đô la, tăng 11,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 47,8 tỉ đô la, chiếm 67,5% tổng kim ngạch và tăng 16,6%.
 
Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 69,6 tỉ đô la Mỹ, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 30,3 tỉ đô la, tăng 10,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,3 tỉ đô la, tăng 11,6%.
 
- Về giá cả: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6-2014 tăng 1,38% so với tháng 12-2013 và tăng 4,98% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm nay, CPI tăng 0,23%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 4,77% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
 
Chỉ số giá vàng tháng 6-2014 giảm 0,12% so với tháng trước và giảm 9,79% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6-2014 tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước.
 
Xem toàn văn báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014 của Tổng cục Thống kê.
 
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online ngày 27/06/2014 truy cập từ http://www.thesaigontimes.vn/116841/Nua-dau-nam-2014-GDP-tang-cao-nhat-trong-ba-nam.html.